Khai Thông Thiền Định (Samatha) và Thiền Tuệ (Vipassanā)

Download English-Vietnamese version:

Breakthrough in Samatha Meditation and Vipassana Meditation – En-Vi

Download Vietnamese version:

Khai Thong Thien Dinh Samatha va Thien Tue Vipassana content

Khai Thong Thien Dinh Samatha va Thien Tue Vipassana full cover

Hai bài Thuyết Trình về Thiền được trình bày tại
Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Yangon, Myanmar

Khai Thông
Thiền Định (Samatha)

Thiền Tuệ (Vipassanā)

Thiền Sư Pa–Auk Tawya Sayadaw

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon

LỜI NÓI ĐẦU

Hai bài thuyết trình có tựa đề “Khai Thông Thiền Định (Samatha Bhāvanā)” và “Khai Thông Thiền Tuệ (Vipassanā Bhāvanā)” đã được đọc và thảo luận với sự quan tâm to lớn tại Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Yangon, Myanmar, từ ngày 9/12 đến ngày 11/12 năm 2004, đã được in và xuất bản dưới hình thức cuốn sách hiện tại này vì sự lợi lạc của công chúng là những người muốn biết một sự giải thích ngắn gọn và súc tích về các khía cạnh thực hành của Đạo Phật được gọi là Samatha–Vipassanā.

Hai bài thuyết trình thực sự miêu tả tóm tắt cốt yếu về Thiền Định và Thiền Tuệ đang được hướng dẫn theo từng chi tiết nhỏ một cách nghiêm ngặt theo đúng Giáo Pháp của Đức Phật tại các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk trên toàn nước Myanmar.

Cuốn sách này giới thiệu với độc giả cách thọ trì đúng đắn thiền Samatha – Vipassanā (Định – Tuệ) như đã được Đức Phật giảng dạy, tu tập chánh định và thâm nhập vào các thực thể tột cùng (ultimate realities) được gọi là “Paramattha”, xác định từng thực thể tột cùng một cách chính xác theo đặc tính, nhiệm vụ, biểu hiện và nhân gần nhất của nó, thẩm sát các mối quan hệ nhân – quả theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda – Duyên Sinh) là cái đã vẽ nên vòng tái sanh một cách hoàn hảo và quán tất cả danh và sắc (nāma – rūpa), các nhân và các quả, bên trong và bên ngoài thuộc về quá khứ, hiện tại và vị lai là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) theo nhiều cách khác nhau.

Nội dung và phạm vi của hai bài thuyết trình sẽ mô tả một cách rõ ràng rằng thiền Samatha–Vipassanā đang được giữ gìn và thực hành hoàn toàn ở nguyên bản thuần khiết ở nước Liên Bang Myanmar. Thực vậy, Myanmar gìn giữ và bảo vệ toàn bộ giáo pháp của Đức Phật cả về pháp học lẫn pháp hành (Pariyatti Paṭipatti) và có thể chia sẻ với thế giới vì sự lợi lạc của toàn thể nhân loại.

Thọ trì Thiền Định để tu tập chánh định và thực hành Thiền Tuệ để tu tập tuệ đến mức độ cao nhất nghĩa là đi trên con đường cao thượng nhất dẫn đến an lạc vĩnh cửu và hạnh phúc bất diệt gọi là Nibbāna. Mọi người được chào đón tham gia vào nhiệm vụ cao thượng đầy hoan hỷ này, điều mà chắc chắn sẽ đem lại lợi ích to lớn ngay trong kiếp sống này.

Hội Nghị Phật Giáo lần thứ tư,
Yangon, Myanmar
từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 12 năm 2004

KHAI THÔNG THIỀN ĐỊNH
(SAMATHA BHĀVANĀ)

 

Hòa Thượng Āciṇṇa, Dhammācariya – Pháp Sư,

Aggamahākammaṭṭhānācariya – Đệ Nhất Đại Thiền Sư

Trưởng Ban Thiền Sư và Cố Vấn Thiền
Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk, Myanmar

 

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon,

Mahā Saddhamma Jotikadhaja – Bậc Đại Nhân Làm Chói Sáng Ngọn Cờ Chánh Pháp

Giáo sư Đại Học Quốc Tế Truyền Bá
Phật Giáo Nguyên Thủy

Chủ Tịch Liên Đoàn Bảo Hộ Giáo Pháp Đức Phật
của Rừng Thiền Quốc Tế Pa–Auk

 


Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

TÓM LƯỢC

Mục tiêu của Định Học (Samādhi–sikkhā) là để làm thanh tịnh tâm khỏi các triền cái (nīvaraṇa) và các phiền não (kilesa) khác để chứng đạt tâm thanh tịnh (cittavisuddhi) và làm tâm thật mạnh mẽ để thọ trì hiệu quả thiền Vipassanā.

Theo Kinh Ánh Sáng (Āloka Sutta[1]) và Kinh Ngủ Gục (Pacalāyamāna Sutta[2]), tuệ kết hợp với ngay từ chuẩn bị định (parikamma–samādhi) thì bắt đầu tỏa ánh sáng. Chúng tôi thấy rằng ánh sáng trở nên sáng hơn khi định tăng trưởng và ở mức độ cận định (upacāra samādhi), nó trở nên sáng chói và xuyên thấu đến nỗi nó có thể thâm nhập vào nội tạng bên trong và rồi đến các thực thể tột cùng (paramattha – ultimate realities). Không có chánh định (sammāsamādhi) thì không thể quan sát được các thực thể tột cùng bằng thắng trí và do vậy không thể thực hành đúng đắn thiền vipassanā được. Đặc biệt, tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) được thấy là vũ khí tốt nhất để thọ trì hiệu quả thiền vipassanā.

Toàn bộ bốn mươi đề mục thiền định (samatha) mà Đức Phật mô tả được xem là để làm phát sanh chánh định đã được miêu tả trong kinh điển Pāḷi. Niệm Hơi Thở[3] (Ānāpānassati) được nhận thấy là phù hợp với nhiều hành giả để tu tập định đến bậc tứ thiền. Không giống như các đề mục thiền khác, niệm hơi thở (ānāpānassati) trở nên vi tế hơn ở các giai đoạn cao hơn cho đến khi không còn rõ ràng nữa. Như vậy, niệm mạnh và tuệ sắc bén là thiết yếu. Cũng vậy, tín (saddhā) mạnh mẽ, tấn (vīriya) dũng mãnh, nhẫn nại, định (samādhi) mãnh liệt, sự hướng dẫn đúng đắn và chánh tuệ (paññā) là cần thiết để tu tập niệm hơi thở (ānāpānassati) thành công.

Bất kỳ sự sai lệch nào khỏi các chỉ dẫn của Đức Phật đều được xem là sự trì hoãn tiến bộ. Sự giải thích đúng đắn các thiền tướng (nimitta), việc quân bình ngũ căn (indriya) và các yếu tố giác ngộ (Bojjhaṅga) và việc tu tập năm pháp thuần thục cho mỗi bậc thiền được xem là bắt buộc.

Với sự hỗ trợ của tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) niệm hơi thở (ānāpānassati), một hành giả có thể tu tập bốn Thiền Bảo Hộ[4] đến mức độ được yêu cầu một cách rất nhanh chóng để thọ hưởng tất cả các lợi ích. Cũng vậy, hành giả có thể dễ dàng tu tập mười biến xứ (kasiṇa[5]) để chứng đạt bốn thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) và rồi tiến lên chứng đắc bốn thiền vô sắc giới (arūpāvacara jhāna).

Thiền Phân Tích Tứ Đại[6] (Catudhātuvavatthāna) được thấy là hữu hiệu nhất để tu tập cận định một cách nhanh chóng. Sau đó, hành giả có thể phân biệt tất cả 32 thân phần[7] (koṭṭhāsa) cả nội thân lẫn ngoại thân. Sau đó, với việc quán xét tính bất tịnh của bộ xương[8] ở nội thân hay ngoại thân, hành giả có thể tu tập sơ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna). Lại nữa, với việc lấy màu trắng của hộp sọ của hành giả ngồi trước mặt làm biến xứ (kasiṇa) trắng[9], hành giả cũng có thể tu tập tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna). Bậc thiền này được nhận thấy là tỏa ánh sáng rực rỡ hơn tứ thiền niệm hơi thở (ānāpānassati) và nó phục vụ như là một vũ khí tốt hơn để thọ trì thiền Vipassanā.

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH

Giới Thiệu

Chúng tôi vui mừng công bố tin tốt lành rằng nhiều hành giả là những người đã và đang hành thiền ở các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk của chúng tôi có thể tu tập chánh định (sammā–samādhi) bằng cách thọ trì thiền niệm hơi thở (Ānāpānassati) hoặc thiền phân tích tứ đại (Catudhātuvavatthāna). Sau đó, họ có thể tiến đến thọ trì thành công bốn Thiền Bảo Hộ và tất cả mười Thiền Biến Xứ (Kasiṇa).

Yêu Cầu Tu Tập Tâm Định (Samādhi) 

Thánh Đạo tám ngành bao gồm giới học (sīla–sikkhā), định học (samādhi–sikkhā) và tuệ học (paññā–sikkhā).

Giới học làm thanh tịnh tâm khỏi các phiền não thô và mãnh liệt (vītikkama–kilesa). Định học làm thanh tịnh tâm khỏi các phiền não sanh khởi và chao động (pariyuṭṭhāna–kilesa). Tuệ học làm thanh tịnh tâm khỏi các phiền não ngủ ngầm (anusaya–kilesa).

Như vậy, sau khi tu tập và gìn giữ giới thanh tịnh, các phiền não ám ảnh (pariyuṭṭhāna kilesa), bao gồm năm triền cái (nīvaraṇa), cứ vẫn tiếp tục làm chao động và giáng vào tâm, khiến tâm trạo cử và tán loạn.

Do vậy, Đức Phật khích lệ các đệ tử của Ngài trong Kinh Pháp Cú là phải tu dưỡng và thuần phục tâm để thọ hưởng an lạc và hạnh phúc.

Tâm khó thấy, tế nhị,

Theo các dục quay cuồng.

Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ, an lạc đến.[10]

Trong Kinh Định (Samādhi Sutta[11]), Đức Phật khích lệ các Tỷ–kheo tu tập định để có thể như thật rõ thấy các pháp như chúng thực sự là.

“Samādhiṁ bhikkhave bhāvetha
Samāhito bhikkhave bhikkhu
yathābhūtaṁ pajānāti”

“Này các Tỷ–kheo, hãy tu tập định. Tỷ–kheo có định sẽ liễu tri đúng như thật các pháp (Bốn Thánh Đế) như chúng thực sự là.”

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, ngay cả khi hành giả có thể tập trung tâm mình vào đề mục thiền một cách liên tục trong một giờ hoặc hơn nữa, thì hành giả ấy vẫn không thể thâm nhập vào trong cơ thể để thấy các cơ quan nội tạng của mình, chứ đừng nói chi đến các thực thể tột cùng (paramattha), trừ khi hành giả ấy chứng đắc ít nhất là cận định (upacāra samādhi).

Khi một hành giả thật sự chứng đắc cận định hoặc bậc thiền (jhāna), hành giả ấy có thể thâm nhập vào trong cơ thể của mình để thấy các cơ quan nội tạng như thịt, gân, xương, gan, tim… và rồi xuyên thấu hơn nữa để thấy các thực thể tột cùng. Như vậy, hành giả ấy có thể thọ trì thiền minh sát (vipassanā) một cách đúng đắn.

Như vậy, để hoàn thành định học, để tu dưỡng và thuần phục tâm đến chánh định, và để tiến lên thiền Vipassanā một cách đúng đắn, chúng ta cần tu tập định tâm.

Theo lời tuyên bố của Đức Phật trong Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta[12]), chánh định (sammāsamādhi) tương đương với định hợp với bất kỳ một trong bốn bậc thiền thiện sắc giới (rūpāvacara kusala jhāna).

Theo trình bày của Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi–magga[13]):

Citta visuddhi nāma sa upacāra aṭṭha–samāpattiyo

Cận định cũng như định hợp với bất kỳ một trong tám thiền chứng được gọi là tâm thanh tịnh

Như vậy, cận định nên được bao gồm trong chánh định. Một hành giả dùng hoặc cận định hoặc định bậc thiền (jhāna) như là nền tảng của thiền Vipassanā và thọ trì thiền Vipassanā xác định danh – sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Định kết hợp với trí minh sát (vipassanā) theo cách này được gọi là “khanikasamādhi” (sát-na định).

Đức Phật miêu tả bốn mươi đề mục thiền cho thiền định (samatha bhāvanā). Bất kỳ một trong bốn mươi đề mục thiền này đều có thể được chọn để tu tập chánh định, với điều kiện là các chỉ dạy của Đức Phật được tuân thủ một cách đúng đắn dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư có đủ năng lực.

Thọ Trì Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati)

Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati) là một trong những đề mục thiền hiệu quả nhất để tu tập định một cách nhanh chóng. Nó nhận được nhiều sự tán dương của Đức Phật[14],[15] và được sử dụng ở nhiều trung tâm thiền như là đề mục thiền đặc biệt (pārihāriya kammaṭṭhāna) để tu tập định. Nếu thực hành một cách đúng đắn theo chỉ dẫn của Đức Phật, nó có thể tu tập tâm đến tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo hệ thống thiền (jhāna) bốn bậc.

Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati) nên được tu tập theo bốn bước theo Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm (Ānāpānassati Sutta), đó là, (1) nhận biết hơi thở dài, (2) nhận biết hơi thở ngắn, (3) nhận biết toàn thân hơi thở, (4) an tịnh hơi thở. Trong thực hành, theo hướng dẫn được đưa ra trong các Chú giải, đầu tiên hành giả được dạy nhận biết hơi thở vào (assāsa) và hơi thở ra (passāsa) bằng phương pháp Đếm[16] (Gaṇanānaya) để phát triển niệm một cách nhanh chóng.

Hành giả (yogi) nên nhận biết hơi thở vào và hơi thở ra nhờ sự xúc chạm nhẹ nhàng của chúng ở đầu mũi hoặc lỗ mũi hay ở môi trên, bất kỳ chỗ nào mà sự xúc chạm là rõ ràng trong khi hành giả ngồi thẳng lưng, buông lỏng với mắt nhắm và thở một cách bình thường.

Chỉ khi hành giả thực hành niệm hơi thở (ānāpānassati) bằng cách an trú niệm trên hơi thở ở điểm xúc chạm rõ ràng với hơi thở vào và hơi thở ra thì hành giả mới hoàn thành đầy đủ định niệm hơi thở (ānāpānassati) và thiền[17]

Hành giả nên tập trung tâm mình ở một điểm (điểm xúc chạm) trên hơi thở để phát triển nhất tâm (ekaggatā), là một tâm sở đại diện cho định (samādhi). Hành giả không nên để tâm mình lang thang đến các đối tượng giác quan khác hay bất kỳ cảm giác thân thể nào không phải là đề mục niệm hơi thở (ānāpānassati).

Phương Pháp Đếm

Trong việc đếm hơi thở, hành giả nên thở vào, thở ra và đếm một; thở vào, thở ra và đếm hai, và cứ thế tiếp tục đến tám với sự tôn kính Thánh Đạo tám ngành. Khi tâm vẫn lặng lẽ gắn chặt vào hơi thở khoảng một giờ đồng hồ trong mỗi thời ngồi thiền, hành giả có thể dừng việc đếm và tiếp tục nhận biết hơi thở một cách lặng lẽ. Khi hành giả có thể tập trung vào hơi thở trong một giờ hay hơn nữa ở mỗi thời ngồi thiền, hành giả ấy nên tiến đến bước tiếp theo.

Nhận Biết Chiều Dài Hơi Thở Cũng Như Toàn Thân Hơi Thở

Chiều dài hơi thở nên được xác định bằng khoảng thời gian diễn ra hơi thở. Nếu thở vào hay thở ra mất nhiều thời gian thì hơi thở đó diễn ra dài. Nếu thở vào hay thở ra mất ít thời gian thì hơi thở đó diễn ra ngắn.

Hơi thở có thể là dài hay ngắn một lúc hay trong toàn thời ngồi thiền. Bất kể nó là gì, sau khi hành giả nhận biết chiều dài của hơi thở, hành giả cũng nên nhận biết toàn thân hơi thở từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc ở điểm xúc chạm của nó ở đầu mũi hoặc ở lỗ mũi hoặc ở môi trên. Hành giả không nên theo hơi thở đi vào phía trong hay ra bên ngoài. Hành giả nên hành động như một người gác cổng.

Một người gác cổng không kiểm tra những người ở bên trong hay bên ngoài đô thị vì chúng không phải là việc của anh ta. Nhưng người gác cổng xem xét từng người khi người đó đến cổng. Tương tự, hành giả không quan tâm đến hơi thở đã vào trong hay ra ngoài mũi vì nó không phải là việc của hành giả. Nhưng mối quan tâm của hành giả chính là mỗi lần hơi thở vào hay hơi thở ra đến cửa lỗ mũi.

Hành giả cũng nên hành động như một người thợ xẻ gỗ. Người thợ xẻ tập trung sự chú ý của mình vào các răng cưa ở điểm tiếp xúc với khúc gỗ mà không quan tâm đến các răng cưa đang tiến lại gần hay đi ra xa, mặc dù chúng không hề xa lạ gì với anh ta khi chúng tới lui như vậy.

Theo cách tương tự, hành giả an trú niệm trên hơi thở ở điểm xúc chạm với lỗ mũi hoặc với môi trên mà không quan tâm đến hơi thở vào và hơi thở ra khi chúng lại gần hay ra xa, mặc dù chúng không hề xa lạ gì với hành giả khi chúng đi lại như vậy.

Khi hành giả có thể tập trung tâm mình một cách lặng lẽ và tỉnh giác vào lúc khởi đầu, lúc giữa và lúc kết thúc của hơi thở vào và hơi thở ra trong một giờ đồng hồ hoặc hơn nữa ở mỗi thời ngồi thiền, hành giả nên tiến lên bước thứ tư.

An Tịnh Hơi Thở

Khi hành giả chú tâm quan sát hơi thở vào và hơi thở ra để nhận biết toàn thân hơi thở, hơi thở của hành giả sẽ càng trở nên nhẹ nhàng và vi tế hơn. Trong khi các đề mục thiền khác trở nên càng rõ ràng hơn ở các giai đoạn cao hơn, niệm hơi thở (ānāpānassati) thì không như vậy. Thực tế, khi hành giả tiếp tục tu tập, hơi thở càng trở nên vi tế hơn đối với hành giả ở mỗi giai đoạn cao hơn, và thậm chí đến lúc mà nó không còn rõ ràng hay biểu hiện nào nữa.

Khi hơi thở trở nên không còn rõ ràng nữa, hành giả không nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi. Hành giả nên tiếp tục ngồi thiền như trước và tạm thời thay hơi thở thực sự bằng nơi mà bình thường hơi thở vẫn xúc chạm như là đề mục hành thiền.

Khi hành giả chú tâm theo cách này, niệm của hành giả sẽ từ từ tăng trưởng và hơi thở sẽ xuất hiện trở lại không lâu sau đó. Rồi hành giả nên tiếp tục tập trung sự chú ý vào hơi thở vào và hơi thở ra ở điểm xúc chạm để nhận biết toàn thân hơi thở.

Sự Xuất Hiện Tướng Của Định

Trong niệm hơi thở, có tất cả ba loại tướng hay hình ảnh (nimitta) của thiền có thể đạt được. Chúng là chuẩn bị tướng (parikamma–nimitta), học tướng (uggahanimitta) và tợ tướng (paṭibhāga–nimitta).

Hơi thở vào và hơi thở ra tự nhiên có thể được lấy làm chuẩn bị tướng. Hình ảnh màu xám tối xuất hiện ở một mức độ định tâm nhất định cũng được coi là chuẩn bị tướng.

Một hình ảnh trắng như bông gòn hoặc sợi tơ xuất hiện ở mức độ định cao hơn được gọi là học tướng. Đây là một mô tả chung. Hình ảnh về màu sắc và hình dạng khác cũng có thể xuất hiện. Các tướng khác nhau có thể xuất hiện với những người khác nhau vì sự khác biệt về tưởng.

Khi định phát triển sâu hơn, hình ảnh hay tướng có thể trở nên rất trong sáng và sáng rực như sao hôm. Dấu hiệu này được lấy làm tợ tướng. Lại nữa, tướng có thể xuất hiện ở các hình dạng khác nhau như một ngôi sao hôm, một viên ruby tròn, một viên ngọc trai, một hạt bông tơ, một dải băng lụa, một luồng khói, dĩa mặt trăng v.v.

Mặc dù nghiệp xứ hơi thở (ānāpāna kammaṭṭhāna) chỉ là một đề mục thiền và là một loại thiền đơn độc nhưng nó cho ra nhiều dạng tướng (nimitta) khác nhau vì sự khác biệt về tưởng của những người khác nhau, và cũng vì sự thay đổi của tưởng theo thời gian của cùng một người.

Thông thường, tướng có màu thuần trắng như một khối bông gòn được gọi là học tướng. Nó không trong sáng như thủy tinh. Khi tướng thay đổi từ màu thuần trắng sang một tướng trong sáng và sáng rực như sao hôm hoặc như một mảnh thủy tinh trong sáng và sáng rực, nó được gọi là tợ tướng.

Khi tướng xuất hiện ở hình dạng một viên ruby, tướng mà giống như viên ruby không trong sáng là học tướng, còn nếu đó là viên ruby trong sáng thì là tợ tướng. Hành giả nên hiểu theo cách tương tự cho các tướng còn lại.

Thiền tướng có thể xuất hiện trong một bước trước đó hoặc nó có thể xuất hiện ở trước mặt. Hành giả không nên chú ý đến các tướng này vì chúng không ổn định. Thiền tướng nên xuất hiện ở điểm xúc chạm của hơi thở với lỗ mũi. Một vài tướng có thể kéo dài từ lỗ mũi vào trong hoặc ra ngoài như một cái que. Trong các trường hợp này, hành giả không nên để tâm mình đi theo tướng vào trong hay ra ngoài; hành giả nên giữ tâm thiền đắm chìm vào tướng hiện diện gần lỗ mũi nhất.

Khi tâm thiền vẫn gắn chặt một cách lặng lẽ với tướng trong một, hai… giờ đồng hồ ở mỗi thời ngồi thiền, tướng sẽ từ từ và chầm chậm trở nên ngày càng trong sáng và sáng chói hơn. Khi tướng đặc biệt trong sáng và sáng chói, nó trở thành tợ tướng.

Tu Tập An Chỉ (appanā)

Từ thời điểm tợ tướng xuất hiện, các triền cái (nīvaraṇa) bị diệt trừ khỏi tâm. Các phiền não còn lại bị đè nén. Tâm được thanh tịnh và niệm (sati) vẫn bám chặt vào tợ tướng hơi thở (ānāpānapaṭibhāga nimitta) một cách chăm chú và khắng khít.

Một lưu ý nên được chỉ ra ở đây. Trong cả hai bước, khi mà học tướng và sau đó là tợ tướng trở nên ổn định và đồng nhất với hơi thở vào và hơi thở ra, và hành giả đang cố gắng an trú niệm của mình một cách vững chắc và lặng lẽ trên tướng, hành giả nên tránh xem xét tướng rồi lại xem xét hơi thở. Hành giả nên dừng hoàn toàn việc xem xét hơi thở như trước đây, và gắn chặt tâm thiền của mình vào tướng hơi thở (ānāpāna nimitta) một cách trọn vẹn.

Trong trường hợp tướng (nimitta) biến mất, hành giả nên quan sát hơi thở vào và hơi thở ra như trước đây. Khi tướng (nimitta) xuất hiện trở lại và trở nên ổn định, hành giả lại chỉ nên cố gắng nhận biết tướng (nimitta) mà thôi. Nếu hành giả thực hành theo cách này, tướng (nimitta) sẽ vững chắc và định sẽ dần tăng trưởng đến cận định.

Trong thực tế, giống như chánh cung hoàng hậu hết lòng chăm sóc để bảo vệ phôi thai một vị chuyển luân thánh vương tương lai, và giống như người nông dân chăm chỉ bảo vệ ruộng lúa gạo và lúa mạch với các hạt chín, cũng vậy hành giả nên bảo vệ cẩn thận tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga nimitta).

Hành giả nên quán xét (reflect) trên tợ tướng ấy lặp đi lặp lại nhiều lần. Bằng cách quán xét lặp đi lặp lại như vậy, hành giả nên cố gắng bảo vệ cận định để nó không bị mất đi. Hành giả nên quân bình ngũ căn (indriya) bằng cách giữ chúng dưới sự kiểm soát của niệm và cân bằng tinh tấn (vīriya) với định (samādhi) và tín (saddhā) với tuệ (paññā).

Hành giả cũng nên quân bình thất giác chi (Bojjhaṅga). Vào lúc tâm thiền lơi lỏng khỏi đối tượng thiền (tợ tướng) và tinh thần lui sụt, hành giả nên tu tập ba giác chi liên quan đến trạch pháp (dhammavicaya), tinh tấn (vīriya) và hỷ (pīti). Bằng cách làm như vậy, hành giả giữ vững được tinh thần và nâng cao ý chí đang lơi lỏng của mình lên.

Mặt khác, khi tâm thiền quá hăng hái, trạo cử và phóng dật vì các lý do như tinh tấn quá vượt trội, hành giả nên tu tập ba giác chi liên quan đến tịnh (passaddhi), định (samādhi) và xả (upekkhā). Bằng cách làm như vậy, hành giả chế ngự được tâm hăng hái và trạo cử của mình và ngăn chặn sự phóng tâm.

Niệm (sati) kiểm soát và bảo vệ đối tượng thiền không bị biến mất. Nó cũng kiểm soát và bảo vệ cho tâm thiền nhận biết liên tục đối tượng thiền và không để bị rơi khỏi thiền. Như vậy, nó luôn luôn cần thiết vào mọi lúc (sabbathīka).[18]

Khi hành giả có thể phát triển định để có thể an trú tâm thiền của mình một cách lặng lẽ và vững chắc trên đối tượng tợ tướng rất trong sáng và sáng chói trong một, hai… giờ đồng hồ, tướng trở nên trong sáng và sáng chói phi thường ở giai đoạn an chỉ định đầy đủ. Xuất khỏi an chỉ định, hành giả nên chuyển sự chú ý đến sắc ý vật hay tâm cơ (hadaya–vatthu, heart–base) trong trái tim. Nếu hành giả thực hành nhiều lần, hành giả có thể dễ dàng phân biệt bằng tuệ của mình ý môn (bhavaṅga citta – tâm hữu phần hay tâm hộ kiếp) sáng trong vốn nương vào sắc ý vật để khởi sanh. Hành giả cũng có thể phân biệt bằng tuệ của mình tợ tướng xuất hiện ở nơi ý môn.

Rồi hành giả nên cố gắng tu tập định để nó tăng trưởng ngày càng cao hơn và quan sát ý môn cùng với tợ tướng, hành giả nên quán xét các thiền chi vốn lấy tợ tướng làm đối tượng của chúng. Hành giả sẽ dần phân biệt được chúng bằng tuệ của mình mà không gặp nhiều khó khăn.

Năm Thiền Chi

1. Tầm (vitakka): hướng và đặt tâm lên tợ tướng.

2. Tứ (vicāra): duy trì tâm và quán xét lặp đi lặp lại trên tợ tướng.

3. Hỷ (pīti): hân hoan, vui thích hoặc sung sướng với tợ tướng.

4. Lạc (sukha): cảm giác an vui, thích thú hạnh phúc với tợ tướng.

5. Nhất tâm (ekaggatā): hợp nhất và an trú tâm lặng lẽ trên tợ tướng.

Khi các thiền chi được phát triển đầy đủ, khi đó có thể công nhận rằng sơ thiền thiện sắc giới (rūpāvacara kusala jhāna) đã phát sanh nơi hành giả. Sau đó, hành giả nên nhập vào bậc thiền (jhāna) thường xuyên mà không phải suy xét nó nhiều. Hành giả cũng nên thực hành tu tập năm pháp thuần thục đối với sơ thiền.

Năm Cách Thuần Thục

1. Thuần thục quán xét chi thiền theo tâm hướng ý môn (Āvajjanavasī) – khả năng phân biệt các chi thiền bằng tuệ liên kết với tâm hướng ý môn (manodvārāvajjana citta);

2. Thuần thục trong nhập định (Samāpajjanavasī) – khả năng nhập vào bậc thiền (jhāna) bất cứ khi nào hành giả muốn;

3. Thuần thục việc quyết định thời gian nhập định (Adhiṭṭhānavasī) – khả năng trú trong an chỉ thiền (jhāna) trong khoảng thời gian bất kỳ mà hành giả muốn;

4. Thuần thục trong xuất định (Vuṭṭhānavasī) – khả năng xuất khỏi bậc thiền (jhāna) an chỉ vào cuối thời gian đã định;

5. Thuần thục quán xét các chi thiền theo tâm tốc hành (Paccavekkhaṇavasī) – khả năng xét duyệt các chi thiền bằng tuệ liên kết với các tâm tốc hành (javana citta)

Sau khi hành giả thuần thục theo năm cách đối với sơ thiền, hành giả có thể tu tập nhị thiền bằng cách loại bỏ chi thiền tầm (vitakka) và tứ (vicāra). Lại nữa, sau khi đạt được sự thuần thục theo năm cách đối với nhị thiền, hành giả có thể tu tập tam thiền bằng cách loại bỏ tiếp chi thiền hỷ (pīti). Tương tự, sau khi đạt được sự thuần thục theo năm cách đối với tam thiền, hành giả có thể tu tập tứ thiền bằng cách loại bỏ tiếp chi thiền lạc (sukha). Hành giả cũng có thể làm sự chứng đạt tứ thiền (jhāna) vững chắc bằng cách phân biệt các thiền chi (xả – upekkhā nhất tâm – ekaggatā) và các đặc tính riêng biệt khác của tứ thiền (jhāna).

Bốn Thiền Bảo Hộ (Caturārakkha–kammaṭṭhāna)[19]

Bốn đề mục thiền bảo hộ là:

1. Thiền Tâm Từ (Mettā–bhāvanā): tu tập tâm từ;

2. Niệm ân đức Phật (Buddhānussati): quán tưởng ân đức Phật;

3. Thiền quán bất tịnh (Asubha bhāvanā): quán tưởng sự bất tịnh;

4. Niệm sự chết (Maraṇānussati): quán tưởng sự chết.

Bốn đề mục thiền này phục vụ như là Nhất thiết xứ Nghiệp xứ – “sabbatthaka kammaṭṭhāna”; nghĩa là, các đề mục thiền đáng được mong muốn trong tất cả các lý do. Tu tập chúng để bảo hộ bản thân hành giả khỏi các hiểm nguy bên trong (kilesa – phiền não) và các hiểm nguy bên ngoài.

Tu Tập Thiền Tâm Từ (Mettā–Bhāvanā)[20]

Để lấy chính mình làm ví dụ nhằm tu tập sự cảm thông và quan tâm đến người khác, trước tiên, hành giả phải làm ngập tràn từ tâm với chính bản thân mình từng lúc như sau.

(1) Ahaṁ avero homi,

(2) Avyāpajjo homi,

(3) Anīgho hoti,

(4) Sukhī attānaṁ pariharāmi.

1. Cầu mong cho tôi thoát khỏi hận thù,

2. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ tâm,

3. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ thân,

4. Cầu mong cho tôi được an vui, hạnh phúc.

Tiếp theo hành giả nên phát triển tâm từ hướng đến thầy tế độ hoặc thầy giáo thọ hoặc một người tương tự mà hành giả quý mến, kính trọng và có cùng giới tính với hành giả. Hành giả nên hồi tưởng đến sự rộng lượng và những lời trìu mến… của người đó để khơi dậy lòng yêu thương và quý mến, cũng như giới hạnh, sự hiểu biết… của người đó để khơi gợi lòng tôn kính và kính trọng. Rồi hành giả nên phát triển tâm từ hướng đến người đó theo cách sau.

Ayaṁ sappuriso

1. Avero hotu,

2. Avyāpajjo hotu,

3. Anīgho hotu,

4. Sukhī attānaṁ pariharātu.

Cầu mong con người hiền thiện này

1. thoát khỏi hận thù,

2. thoát khỏi khổ tâm,

3. thoát khỏi khổ thân,

4. được an vui và hạnh phúc.

Nếu hành giả đã chứng đắc tứ thiền (jhāna) bằng việc thực hành Niệm hơi thở (Ānāpānassati), trước tiên, hành giả phát triển bậc thiền (jhāna) ấy bằng cách quán xét tợ tướng của niệm hơi thở (ānāpānassati). Khi ánh sáng của bậc thiền bắt đầu trở nên rất sáng rực và chói lọi, hành giả xuất khỏi thiền ấy và tập trung tâm mình vào người mà hành giả yêu mến và tôn kính. Người đó sẽ xuất hiện rõ ràng trong ánh sáng chói lọi. Hành giả nên hình dung người đó ở khoảng cách 1,8m trước mặt mình. Rồi tập trung sự chú ý vào người đó, hành giả tu tập tâm từ theo bốn cách như đã đề cập ở trên.

Việc tu tập tâm từ sẽ tiến triển một cách trôi chảy và nhanh chóng khi nó có được sự hỗ trợ mạnh mẽ của tứ thiền hơi thở. Sau khi tu tập tâm từ theo bốn cách, hành giả chọn một cách, ví dụ “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm”. Hành giả nên hình dung ra dáng vẻ hạnh phúc nhất của người đó và quán xét lặp đi lặp lại “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm”.

Khi tâm của hành giả lặng lẽ, yên lặng, bình lặng và tập trung tốt vào hình dáng của nhân vật đáng kính trong một giờ đồng hồ hoặc hơn nữa, hành giả nên kiểm tra các thiền chi trong ý môn của mình. Nếu tất cả năm thiền chi xuất hiện rõ ràng trong tuệ nhãn của hành giả, lúc đó có thể công nhận rằng hành giả đã chứng đạt sơ thiền tâm từ (mettābhāvanā). Hành giả nên thực hành để đạt được sự thuần thục theo năm cách đối với bậc thiền (jhāna) này và rồi tu tập nhị thiền và tam thiền tâm từ (mettā jhāna) như đã mô tả trong niệm hơi thở (ānāpānassati).

Theo hướng dẫn được đưa ra trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga)[21]Mahāṭikā[22], hành giả nên tu tập tâm từ đến tam thiền (jhāna) hướng đến từng người. Vì có bốn cách tu tập thiền tâm từ, hành giả nên chứng đạt tam thiền (jhāna) theo từng cách.

Khi hành giả đạt được thành công như cách mô tả ở trên, hành giả nên tu tập tâm từ theo cách tương tự hướng đến người đáng kính và đáng quý mến khác. Hành giả nên tu tập thành công tâm từ hướng đến ít nhất mười người như vậy.

Rồi hành giả nên tu tập tâm từ theo cách tương tự hướng đến những người rất thân yêu bao gồm cha mẹ, anh em trai, chị em gái, bà con họ hàng và bạn bè, từng loại người một. Đối tượng phải cùng giới tính với hành giả và phải chứng đắc tam thiền theo từng cách một trong bốn cách tu tập tâm từ.

Tiếp theo, hành giả nên tu tập tâm từ theo cách tương tự hướng đến ít nhất mười người không thương, không ghét và rồi đến những người thù địch, từng người một. Trước khi hành giả tu tập tâm từ (mettā) hướng đến một kẻ thù, đầu tiên hành giả nên tu tập tâm từ với người đáng kính và đáng quý mến khác, rồi đến người thân yêu, và rồi đến những người không thương, không ghét. Khi tâm hành giả mềm mại, dễ uốn nắn và được khéo tu tập, và ánh sáng của thiền là rất mạnh và sáng chói, rồi hành giả hình dung ra người thù địch trong ánh sáng của thiền và tu tập tâm từ hướng đến người đó.

Nếu hành giả không thể đắc thiền vì sự phẫn uất đối với kẻ thù, hành giả phải xua đuổi sự phẫn uất bằng cách quán xét theo mười cách đã được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[23]). Hành giả nên tu dưỡng tâm từ (mettā) theo cách này hướng đến tất cả các kẻ thù, từng người một.

Khi hành giả có thể tu tập tâm từ (mettā) một cách bình đẳng hướng đến bốn loại người:

1. Atta: bản thân hành giả,

2. Pīya: người thân yêu bao gồm những người đáng kính và đáng quý mến,

3. Majjhatta: người trung tính tức là người không thương, không ghét,

4. Verī: kẻ thù hay người mà hành giả căm ghét.

và khi hành giả có thể phá bỏ ranh giới phân biệt các loại người, lúc đó, hành giả được nói là đã phá bỏ ranh giới giữa mọi người hoặc chứng đạt sự phá bỏ ranh giới (sīmāsambheda).

Như vậy, tướng và cận hành đạt được bởi hành giả đồng thời với việc phá bỏ các ranh giới. Nhưng khi việc phá bỏ ranh giới có kết quả, hành giả đạt tới an chỉ định theo cách mô tả trước đây mà không có khó khăn gì bằng cách tu dưỡng và phát triển cũng tướng đó lặp đi lặp lại.

Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), việc chứng đạt sự phá bỏ ranh giới (sīmāsambheda) chỉ thành công với hành giả nào mà tâm của vị ấy đã đạt đến bậc thiền (jhāna) khi tu tập tâm từ (mettā) hướng đến bốn loại người. Lại nữa, sự tu tập tâm từ theo 528 cách chỉ có thể thành tựu trọn vẹn với những ai mà tâm đã đạt được an chỉ định và đã chứng đắc sự phá bỏ ranh giới (sīmāsambheda). Giờ đây, hành giả có thể tu tập tâm từ (mettā) theo 528 cách như được miêu tả trong Phân Tích Đạo (Paṭisambhidā Magga[24]) và an trú trong trạng thái vi diệu tỏa khắp mọi hướng với tâm từ.

Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati)[25]

Đối với hành giả đã chứng đạt tứ thiền bằng cách thực hành Niệm hơi thở (Ānāpānassati), trước tiên, hành giả nên phát triển đến tứ thiền, là thiền đi cùng với ánh sáng rất rực rỡ và xuyên thấu. Với sự trợ giúp của ánh sáng này, hành giả hồi tưởng hoặc hình dung một bức tượng Phật mà hành giả tôn kính và kính trọng. Khi hành giả thấy pho tượng một cách rõ ràng trong ánh sáng, hành giả nên đảnh lễ và xem rằng đó chính là Đức Phật đang tại thế.

Rồi hành giả nên đổi sự chú ý từ hình ảnh Đức Phật sang các ân đức Phật và quán xét các ân đức ấy lặp đi lặp lại. Hành giả lần lượt quán xét tất cả chín ân đức Phật, và rồi chọn ra một ân đức mà hành giả thích nhất và quán tưởng nó lặp đi lặp lại, ví dụ “arahaṁ, arahaṁ”. Khi định của hành giả tăng trưởng, hình ảnh Đức Phật biến mất trong khi tâm hành giả vẫn tập trung trên ân đức riêng biệt ấy. Khi đó, hành giả không nên cố gắng hồi tưởng hay tìm kiếm hình ảnh Đức Phật; hành giả chỉ nên tập trung tâm mình trên ân đức ấy mà thôi.

Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của định tứ thiền, hành giả sẽ sớm chứng đạt cận định ở đề mục Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati). Khi tâm hành giả vẫn lặng lẽ tập trung vào ân đức trong một giờ đồng hồ hay hơn nữa mà không có bất kỳ sự xao lãng nào, hành giả nên suy xét các thiền chi. Hành giả sẽ nhận thấy rằng mình đã đạt được cận định vì có thể thấy các chi thiền là lặng lẽ và được khéo tu tập.

Một hành giả đã chứng đạt cận định đề mục thiền Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati) thì đạt được tín tâm và tôn kính trọn vẹn nơi Đức Phật, có được niệm, tuệ tốt, nhiều hỷ và lạc. Hành giả cảm thấy như thể đang sống trong sự hiện diện của Đức Phật và vì vậy có thể tránh các hành động tà hạnh. Thân của hành giả, đã được thấm và an trú vào ân đức Phật, trở nên đáng cung kính như tháp thờ xá–lợi. Như vậy, hành giả được bảo vệ khỏi tất cả các hiểm nguy.

Thiền Quán Bất Tịnh (Asubha Bhāvanā)[26]

Quán bất tịnh cũng là một đề mục thiền rất hữu ích. Đề mục này được nhiều lời tán dương của Đức Phật vì nó là đề mục thiền hiệu quả nhất để chinh phục tham ái (rāga). Thực vậy, con quỷ tham ái (rāga) sợ nhất là sự bất tịnh vì nó bị chế ngự bởi tưởng bất tịnh (asubha–saññā).

Lại nữa, với hành giả đã chứng đạt tứ thiền (jhāna) hơi thở (ānāpāna), hành giả ấy có thể tu tập dễ dàng và nhanh chóng sơ thiền quán bất tịnh (asubha bhāvanā). Trước tiên, hành giả phát triển đến tứ thiền đã chứng đắc. Khi tuệ của thiền kết hợp với định bậc thiền (jhāna samādhi) thứ tư thì tỏa ánh sáng rất rực rỡ, chói lọi theo mọi hướng, chiếu sáng vùng xung quanh, hành giả hồi tưởng tướng của xác chết ghê tởm nhất có cùng giới tính như là hành giả đã thấy trước đây. Hành giả cố gắng quan sát xác chết đó dưới ánh sáng sáng chói ấy.

Khi hành giả có thể thấy xác chết rõ ràng dưới ánh sáng chói lọi, xuyên thấu, hành giả tập trung tâm thiền của mình một cách lặng lẽ trên xác chết ở vị trí gớm ghiếc nhất, cố gắng phân biệt tướng bất tịnh nơi xác chết như đã được chỉ dẫn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[27]).

Hành giả quán xét lặp đi lặp lại tướng bất tịnh: “paṭikūla, paṭikūla” hoặc “bất tịnh, bất tịnh”. Khi tâm thiền vẫn lặng lẽ gắn chặt trên tướng bất tịnh trong một, hai giờ đồng hồ…, tướng của xác chết thay đổi từ học tướng sang tợ tướng. Tướng xác chết mà hành giả thấy rõ ràng như thể hành giả đang nhìn xác chết với cặp mắt mở là học tướng. Tướng này xuất hiện như một cảnh tượng gớm guốc, xấu xí, dễ sợ và khủng khiếp.

Khi tợ tướng phát sanh, tác ý thiền (bhāvanā–manasikāra) được khéo tu tập và cao thượng, và tướng của xác chết trở nên an tịnh và vững vàng. Như vậy, tợ tướng xuất hiện như một người đàn ông giàu sang có tứ chi tròn trĩnh nằm nghỉ sau khi ăn uống no nê.[28]

Quan sát tợ tướng, hành giả quán xét là “paṭikūla, paṭikūla” hoặc “bất tịnh, bất tịnh” nhiều lần cho đến khi tâm thiền vẫn an trú lặng lẽ trên tướng được một, hai giờ đồng hồ hoặc hơn nữa. Rồi hành giả suy xét năm thiền chi để nhận thấy chúng hiển hiện rõ ràng. Đến đây có thể cho rằng hành giả đã chứng đắc sơ thiền. Hành giả nên thực hành tốt để đạt được sự thuần thục theo năm cách đối với bậc thiền này.

Hành giả nào mà đã đắc được bất kỳ một trong mười đề mục thiền xác chết thì đạt được tưởng bất tịnh (asubha–saññā) và có thể trấn áp được tham ái (lobha) của mình. Như vậy, hành giả thoát khỏi sự tham ái, say mê, phù phiếm và giống như một vị A-la-hán.

Niệm Sự Chết (Maraṇānussati)

Theo hướng dẫn được đưa ra trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[29]) và Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), hành giả, là người tu tập thành công sơ thiền bằng cách quán xét sự bất tịnh của một xác chết (asubha–bhāvanā), có thể dễ dàng chuyển sang thiền Niệm Sự Chết.

Đầu tiên, hành giả hồi tưởng học tướng hoặc tợ tướng của xác chết mà hành giả đã tu tập trước đây. Rồi hành giả quán xét sự bất tịnh của nó để tu tập đến sơ thiền quán bất tịnh (asubha–bhāvanā). Sau đó, hành giả xuất khỏi thiền ấy và quán xét bản chất của sự chết “Thân này của ta đây có bản chất phải bị tiêu hoại. Ta chắc chắn sẽ chết. Ta không thể tránh khỏi cái chết.”

Hành giả nên liên tục tập trung sự chú ý vào bản chất cái chết của chính mình, an trú niệm về sự chết và phát triển ý thức kinh cảm (sense of urgencyý thức khẩn cấp) cùng với hiểu biết về sự chết. Hành giả, bằng nhãn tâm của mình, sẽ sớm quan sát xác chết ghê tởm của chính bản thân hành giả thay cho xác chết bên ngoài kia. Sau đó, hành giả phân biệt bằng tuệ bản chất của sự cắt đứt mạng căn (jīvitindriya) ở nơi xác chết của chính mình.

Và tập trung tâm thiền vào đối tượng là sự cắt đứt mạng căn (life–faculty) hay nói cách khác là sự chấm dứt tâm hữu phần (bhavaṅga) vốn là tâm liên kết với mạng (jīvita) căn, hành giả quán xét lặp đi lặp lại một trong các cách mà hành giả thích nhất sau đây.

1. Maraṇaṁ me dhuvaṁ, jīvitaṁ me adhvaṁ.

Cái chết của ta là chắc chắn, còn mạng sống của ta là không chắc chắn.

2. Maraṇaṁ me bhavissati.

Cái chết của ta chắc chắn sẽ xảy ra.

3. Maraṇapariyosānaṁ me jīvitaṁ

Mạng sống của ta chỉ có cái chết là sự kết thúc.

4. Maraṇaṁ maraṇaṁ

Chết, chết.

Hành giả nên hăng hái, phấn đấu tập trung tâm thiền vào đối tượng là sự cắt đứt mạng căn trong xác chết của chính mình trong một giờ, hai giờ hay nhiều hơn. Nếu thành công, hành giả sẽ thấy các chi thiền trở nên rõ ràng. Vì đối tượng thiền là bản chất của sự chết và sự khủng khiếp, làm thức tỉnh ý thức kinh cảm, chỉ có cận định (upacārajhāna) phát sanh.

Nhờ các lợi lạc của thiền niệm sự chết (Maraṇānussati), hành giả đạt được tưởng về sự ghê tởm và tan biến ảo tưởng đối với tất cả các loại hiện hữu; vị ấy cắt đứt sự dính mắc với cuộc sống và các tài vật; tránh xa việc làm xấu ác và nhiều tích trữ; hành giả phát triển tưởng về vô thường (anicca–saññā) và kết quả là tưởng về khổ (dukkha–saññā) và tưởng về vô ngã (anatta–saññā). Cuối cùng, hành giả phát triển ý thức kinh cảm (saṁvegađộng tâm) để nhanh chóng thọ trì hành thiền.

Tu Tập Định Bằng Các Biến Xứ (Kasiṇa)

Hành giả là người đã chứng đạt Chánh định (Sammāsamādhi) bằng thiền niệm hơi thở (ānāpānassati) thì có thể dễ dàng và nhanh chóng thọ trì các thiền biến xứ (kasiṇa) để tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo các phương thức được mô tả trong Visuddhi Magga[30] hay Thanh Tịnh Đạo[31]. Hành giả không cần phải chuẩn bị dụng cụ đặc biệt nào cho mười biến xứ (kasiṇa). Hành giả có thể quan sát các đối tượng có sẵn để tu tập mười biến xứ (kasiṇa).

Để tu tập biến xứ đất (kasiṇa pathavī), hành giả vẽ một vòng tròn đường kính khoảng ba tấc hay sáu tấc bằng một cái que trên một mảnh đất sạch. Hành giả đứng ở khoảng cách thích hợp với vòng tròn, nơi mà hành giả có thể thấy toàn bộ vòng tròn với mắt mở vừa phải. Hành giả phát triển định (đệ tứ thiền sắc giới, rūpāvacara jhāna) mà hành giả đã chứng đạt bằng cách quán xét tợ tướng của niệm hơi thở (ānāpānassati) đến khi ánh sáng chói lọi, sáng rực tỏa ra. Hành giả xuất khỏi thiền (jhāna), tập trung chú ý vào đất bên trong vòng tròn, quán xét lặp đi lặp lại “pathavī, pathavī” hay “đất, đất”.

Hành giả, với sự hỗ trợ của tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna), có một trí nhớ tuyệt vời. Hành giả có thể đạt được học tướng của kasiṇa đất trong khoảng mười phút. Sau đó, hành giả có thể đi đến thiền đường và quán xét học tướng như là “pathavī, pathavī” hoặc “đất, đất” đến khi tợ tướng trong sáng, trơn phẳng và sáng rực phát sanh. Khi tợ tướng trở nên vững chắc, hành giả từ từ mở rộng hay phóng to nó bằng sức mạnh của ý chí theo cách sau “Mong rằng tợ tướng lớn thêm một ngón tay, hai ngón tay,… và cứ thế” cho đến khi nó mở rộng ra vô tận theo tất cả các hướng. Bây giờ, hành giả tập trung tâm mình trên tợ tướng đã được mở rộng và quán xét “pathavī, pathavī” hay “đất, đất” cho đến khi an chỉ định (jhāna) xuất hiện. Hành giả thực hành để đạt được sự thuần thục theo năm cách đối với sơ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) này. Sau đó, hành giả có thể tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo cách tương tự như đã miêu tả trong niệm hơi thở (ānāpānassati).

Phương thức tương tự có thể được dùng để tu tập chín biến xứ (kasiṇa) còn lại. Sau khi tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) trong tất cả các biến xứ (kasiṇa), hành giả có thể tiến lên tu tập bốn bậc thiền vô sắc giới (arūpāvacara jhāna) từ chín biến xứ (kasiṇa) ngoại trừ biến xứ hư không (ākāsa kasiṇa) như đã được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[32]).

Hành giả cũng có thể thực hành theo mười bốn cách đặc biệt để tu tập thần thông hiệp thế (lokiya abhiññā).[33]

Kết Luận

Đúng là có thể tu tập các đề mục thiền mà Đức Phật đã miêu tả cho thiền định (samatha bhāvanā), để đạt được kết quả trọn vẹn như đã được đề cập trong Kinh điển Phật học, cần phải tuân thủ các chỉ dạy của Đức Phật một cách chính xác và tích cực.

Niệm hơi thở (Ānāpānassati) được xem là một đề mục thiền tốt để tu tập định một cách hiệu quả đến mức tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) trong một thời gian tương đối ngắn. Sau khi đạt được chánh định thông qua một đề mục thiền, hành giả có thể dễ dàng tiến lên tu tập các đề mục thiền khác, với điều kiện là hành giả không trệch khỏi các chỉ dạy của Đức Phật.

Chúng tôi cũng thấy rằng “catudhātuvavatthāna” (phân tích tứ đại) là đề mục thiền hiệu quả nhất để tu tập cận định trong thời gian ngắn nhất. Khi một người thực sự đạt được cận định, người đó đạt được sự thanh tịnh tâm (cittavisuddhi). Theo Kinh Ánh Sáng (Āloka Sutta) và Kinh Ngủ Gục (Pacalāyamāna Sutta), tâm hợp với cận định (upacāra samādhi) thì tỏa ánh sáng chói lọi và xuyên thấu. Với sự trợ giúp của ánh sáng này, hành giả có thể quan sát tất cả 32 thân phần (koṭṭhāsa) của chính hành giả cũng như của người khác. Như vậy, hành giả có thể dễ dàng thọ trì thân hành niệm (kāyagatāsati) để tu tập sơ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna). Rồi bằng cách tập trung tâm của hành giả vào màu trắng của hộp sọ của một hành giả đang ngồi phía trước mình, hành giả có thể thọ trì thiền biến xứ trắng (odāta kasiṇa) để tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna).

Tứ thiền biến xứ (kasiṇa) trắng được xem là đi cùng với ánh sáng chói lọi hơn tứ thiền niệm hơi thở (ānāpānassati). Như vậy, nó phục vụ như một nền tảng duy nhất để thọ trì thiền minh sát (vipassanā).

Tham khảo

Tất cả các tham chiếu ở đây đều dựa vào Ấn Bản của Hội Đồng Phật Giáo Myanmar lần thứ sáu.

A.                  Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya)

Abh.A           Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

D.                  Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)

D.Ti              Phụ chú giải Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)

Dh.               Kinh Pháp Cú (Dhamma Pada)

M.                 Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)

S.                  Tương Ưng Bộ Kinh (Saṁyutta Nikāya)

Ps.                Phân Tích Đạo (Paṭisambhidā Magga)

Vbh.             Bộ Phân Tích (Vibhaṅga)

Vs.               Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga)

Vs.Ti            Phụ chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga)

Hội Nghị Phật Giáo lần thứ tư,
Yangon, Myanmar
từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 12 năm 2004

KHAI THÔNG
THIỀN TUỆ (VIPASSANĀ)

 

Hòa Thượng Āciṇṇa, Dhammācariya – Pháp Sư,

Aggamahākammaṭṭhānācariya – Đệ Nhất Đại Thiền Sư

Trưởng Ban Thiền Sư và Cố Vấn Thiền
Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk, Myanmar

 

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon,

Mahā Saddhamma Jotikadhaja – Bậc Đại Nhân Làm Chói Sáng Ngọn Cờ Chánh Pháp

Giáo sư Đại Học Quốc Tế Truyền Bá
Phật Giáo Nguyên Thủy

Chủ Tịch Liên Đoàn Bảo Hộ Giáo Pháp Đức Phật
của Rừng Thiền Quốc Tế Pa–Auk

 


Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

TÓM LƯỢC

Vì thiền Vipassanā liên hệ đến các thực thể tột cùng (paramattha – ultimate realities), danh và sắc, cả bên trong lẫn bên ngoài, được phân tích bằng tuệ hợp với chánh định vào trong các thành phần tột cùng (ultimate components) – các tâm (citta), các tâm sở (cetasika) và các sắc (rūpa) – và mỗi thực thể tột cùng này được xác định theo các đặc tính, nhiệm vụ, biểu hiện và nhân gần của nó để tu tập đúng đắn “Trí Xác Định Danh Sắc” (Nāmarūpaparicchedañāṇa) và “Kiến Thanh Tịnh” (Diṭṭhivisuddhi)[34]. Tính khối của nhóm danh (ý) và nhóm sắc (rūpakalāpa) cần phải được phá vỡ (ghanavinibbhoga) để thâm nhập đến các thực thể tột cùng và đặc tính vô ngã (anatta).[35],[36]

Tiếp theo, có bốn nhân – nghiệp (kamma), tâm (citta), thời tiết (utu), dưỡng chất (āhāra) – sanh ra sắc, và các nhân sanh tiến trình tâm (tiến trình nhận thức hay lộ trình tâm) ở sáu môn được phân biệt bằng thắng trí. Cũng vậy, các nhân và các quả theo Pháp Duyên Khởi (paṭiccasamuppāda) được phân biệt và xác minh để làm sáng tỏ tất cả các hoài nghi[37] thuộc về quá khứ, đến hiện tại và đến tương lai, và để tu tập “Trí Phân Biệt Các Nhân Của Danh Sắc” (Trí Phân Biệt Nhân Duyên) (Paccayapariggahañāṇa) và “Đoạn Nghi Thanh Tịnh” (Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi). Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[38]) và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[39]) chỉ rõ rằng không ai có thể giải thoát khỏi vòng khổ đau mà không cần phân biệt mối liên hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi.

Lại nữa, khi thọ trì thiền Vipassanā, tất cả danh và sắc, các nhân và các quả, bên trong và bên ngoài thuộc về quá khứ, hiện tại và vị lai lần lượt được xác định là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) như hướng dẫn trong Phân Tích Đạo bản Pāḷi (Paṭisambhidā Magga Pāḷi[40]), Tương Ưng Kinh bản Pāḷi (Saṁyutta Pāḷi[41]), Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[42],[43]),… Nhiều phương pháp thực hành được sử dụng cho việc thẩm sát, phân biệt và xác định các hành theo nhiều cách để đạt được kết quả như kinh điển đã miêu tả, để tu tập mười trí minh sát (Vipassanāñāṇa), để thành tựu cấp độ thanh tịnh tâm cao hơn, và để chứng ngộ mục tiêu cao thượng nhất của sự giải thoát là điều vẫn còn có thể trong Giáo Pháp (sāsana) của Đức Phật.

Trong quá trình 21 năm (từ năm 1983 đến 2004), nhiều hành giả từ Myanmar và hải ngoại đã thọ trì các khóa thiền Định–Tuệ (samatha – vipassanā) ở các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk của chúng tôi và nhiều người đạt được thành công tuyệt vời với sự hài lòng to lớn. Tất cả mọi người đều được chân thành chào đón đến hành thiền tại các trung tâm mở cửa quanh năm này.


BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH

Giới Thiệu

Chúng tôi vui mừng công bố tin tốt lành rằng nhiều hành giả từ Myanmar và hải ngoại đang thọ trì thiền vipassanā thành công đến từng chi tiết nhỏ như được miêu tả trong Kinh Điển Phật Học và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) ở các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa–Auk của chúng tôi.

Với sự trợ giúp của ánh sáng rực rỡ, xuyên thấu tỏa ra từ tâm hợp với chánh định (sammāsamādhi), hành giả thâm nhập đến các thực thể tột cùng (paramattha), là các pháp tạo nên tâm và thân, xác định từng tâm (citta), từng tâm sở (cetasika), và từng loại sắc chân đế (rūpa) theo các đặc tính (lakkhaṇa), nhiệm vụ (kicca), biểu hiện (paccupaṭṭhāna) và các nhân gần (padaṭṭhāna) tương ứng của chúng và rồi phân biệt các nhân sanh ra danh – sắc này bao gồm các mối quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda). Sau đó, hành giả quán xét ba đặc tính (tam tướng) của các hành theo nhiều cách đặc biệt như đã được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) để tu tập đúng đắn trí minh sát (vipassanāñāṇa) theo từng trí một để có thể chứng đạt mục tiêu tối hậu của thiền vipassanā – chứng ngộ Niết-bàn.

Thanh Tịnh Tâm

Theo Kinh Trạm Xe (Rathavinīta Sutta[44]) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[45]), tâm được thanh tịnh một cách có hệ thống theo bảy giai đoạn:

1. Sīla–visuddhi: thanh tịnh giới,

2. Citta–visuddhi: thanh tịnh tâm bằng định,

3. Diṭṭhi–visuddhi: Kiến thanh tịnh,

4. Kaṅkhāvitaraṇa–visuddhi: Đoạn Nghi thanh tịnh,

5. Maggāmagga–ñāṇa–dassana–visuddhi: Đạo và Phi Đạo Tri kiến thanh tịnh,

6. Paṭipadā–ñāṇadassana–visuddhi: Đạo Hành Tri Kiến thanh tịnh,

7. Ñāṇadassana–visuddhi: Tri Kiến thanh tịnh.

Thanh Tịnh Tâm Khỏi Tà Kiến (Kiến Thanh Tịnh)

Sau khi thành tựu thanh tịnh giới (sīlavisuddhi) bằng cách chăm chỉ tuân thủ tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhi sīla) và thành tựu thanh tịnh tâm (cittavisuddhi) bằng cách tu tập chánh định, thiền sinh hay hành giả (yogī) nên tiến lên giai đoạn thứ ba của thanh tịnh là Kiến Thanh Tịnh (diṭṭhi–visuddhi). Ở đây, hành giả phải từ bỏ thân kiến (tà kiến về thân) (sakkāyadiṭṭhi) hoặc ngã kiến (atta diṭṭhi) nghĩ rằng có tồn tại “ta”, “người”, “cái tôi”, “linh hồn” hoặc “tự ngã”. Để làm điều này, hành giả phải phân tích chính thân và tâm của mình thành các thành phần tột cùng và xác định từng thực thể sắc chân đế (đất (pathavī), nước (āpo), lửa (tejo)…) và từng thực thể danh chân đế (tâm (citta) và tâm sở (cetasika)) để thấy biết một cách sâu sắc rằng chỉ có năm thủ uẩn (upādānakkhandha) tồn tại và rằng không có linh hồn, không có cái tôi, hay tự ngã nào thực sự tồn tại.

Như vậy, hành giả phải thực hiện nhiệm vụ xác định danh–sắc khi hành giả bước vào lĩnh vực thiền Vipassanā. Để bắt đầu với cái dễ hơn, ở các trung tâm thiền của chúng tôi, xác định sắc được hướng dẫn trước tiên.

Xác Định Sắc (Quán Sắc)
(Rūpa–kammaṭṭhāna hay Rūpa–pariggaha)

Theo Đại Kinh Gopālaka (Mahā Gopālaka Sutta[46]), tất cả các sắc đại hiển (bhūtarūpa) và sắc y sinh (upādārūpa) phải được xác định để tiến đến chứng đạt trí Đạo (Magga–ñāṇa).

Đầu tiên, hành giả phát triển chánh định mà hành giả đã chứng đạt được, và rồi xác định bốn đại bằng thiền phân tích tứ đại (catudhātuvavatthāna). Hành giả xác định đất (pathavī) (yếu tố lan rộng) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là cứng, thô, nặng, mềm, trơn mịn, nhẹ, nước (āpo) (yếu tố kết dính) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là kết dính và chảy, lửa (tejo) (yếu tố nhiệt) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là nóng và lạnh, và gió (vāyo) (yếu tố chuyển động) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là đẩy và hỗ trợ.

Bắt đầu ở một nơi trên thân thể của hành giả, nơi mà đặc tính cứng rõ ràng, hành giả quán xét bản chất của tính cứng trong từng phần của toàn thân cơ thể. Hành giả làm tương tự cho mười một yếu tố còn lại. Hành giả thực hành để phân biệt tất cả mười hai đặc tính, từng đặc tính một theo thứ tự lặp đi lặp lại đến khi có thể phân biệt tất cả các đặc tính gần như đồng thời. Rồi hành giả tập trung tâm trên mười hai đặc tính, là đại diện cho tứ đại, đến khi phát sanh cận định (upacāra samādhi). Vào lúc này, hành giả chỉ nhận biết tứ đại mà không còn là thân thể của mình nữa.

Khi hành giả giữ tâm tập trung trên tứ đại, một màu xám, rồi màu trắng và rồi một khối trong sáng như thủy tinh hay băng đá nói chung xuất hiện. Khối trong sáng này đại diện cho các pasāda rūpa (tịnh sắc hay sắc thần kinh). Khi hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại trong khối trong sáng, khối đó vỡ thành các hạt rất nhỏ là các nhóm sắc (tức tổng hợp sắcrūpa–kalāpa) vốn sanh và diệt rất nhanh chóng. Hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại trong các hạt nhỏ bằng tuệ như đã phân biệt tứ đại trong thân thể mình. Sau đó, hành giả nên phân biệt sắc y sinh (sở tạo sắc) trong các hạt nhỏ này. Hành giả nên phân tích các hạt nhỏ ở năm môn (pañca–dvāra).

Bảng 1: Xác Định Sắc Ở Nhãn Môn

1. Nhãn–thập–sắc 2. Thân–thập–sắc 3. Tánh–thập–sắc 4. Tâm–bát–sắc 5. Thời tiết–bát–sắc 6. Dưỡng chất–bát–sắc
1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī)
2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo)
3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo)
4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo)
5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa)
6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha)
7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa)
8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā)
9. mạng căn (jīvita rūpa) 9. mạng căn (jīvita rūpa) 9. mạng căn (jīvita rūpa)
10. nhãn tịnh sắc (cakkhu–pasāda) 10. thân tịnh sắc (kāya–pasāda) 10. sắc tánh (bhāva–rūpa)
nghiệp sanh, trong suốt nghiệp sanh, trong suốt nghiệp sanh, mờ tâm sanh, mờ thời tiết sanh, mờ vật thực sanh, mờ

Hành giả có thể xác định theo cách tương tự cho 54 loại sắc ở mỗi môn: nhĩ (tai) môn, tỷ (mũi) môn, thiệt (lưỡi) môn, thay thần kinh nhãn bằng thần kinh nhĩ, thần kinh tỷ và thần kinh thiệt một cách tương ứng. Trong thân môn chỉ có 44 loại sắc (rūpa) vì chỉ có 5 loại nhóm sắc (rūpa kalāpa) hiện diện, đó là, thân–thập–sắc, tánh–thập–sắc và 3 loại nhóm sắc tám. Các loại hạt nhỏ (nhóm sắc) nào mà có chứa các tịnh sắc (pasāda–rūpa) thì trong suốt còn các loại khác thì không trong suốt.

Xác Định Danh (Quán Danh)
(Nāma–kammaṭṭhāna hay Nāma–pariggaha)

Danh (nāma) nghĩa là tâm (hay tâm vương) (citta) và tâm sở (hay sở hữu tâm) (cetasika) cấu thành ý. Theo Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[47]), hàng ngàn tỷ ý sanh khởi tuần tự trong mỗi giây, và tâm (citta) và tâm sở (cetasika) không có hình thể và dáng vẻ. Như vậy, điều này có thể được hỏi rằng: “Làm thế nào mà hành giả có thể quan sát được danh?

Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammattha Saṅgaha) miêu tả rằng tâm hộ kiếp (tâm hữu phần tức bhavaṅga citta) đóng vai trò là ý môn, và tiến trình nhận thức ở ý môn – cũng là thứ không có hình sắc – có thể bắt cảnh quá khứ bao gồm các tâm (citta), các tâm sở (cetasika) và các sắc (rūpa). Như vậy, danh và sắc có thể được quan sát bởi các tâm (citta) sanh ở ý môn (manodvārika citta) khi chúng hợp với chánh định.

Để phân biệt danh, trước tiên, hành giả phải quan sát

(1) căn cứ vật lý (vatthu) mà danh nương vào và

(2) cảnh được bắt bởi tâm (citta) và tâm sở (cetasika).[48]

Để làm sáng tỏ, danh nên được phân biệt qua sáu môn theo các tiến trình tâm[49].

Theo Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[50]), cảnh sắc xuất hiện trong nhãn môn và ý môn đồng thời; cảnh thanh xuất hiện ở nhĩ môn và ý môn đồng thời; và cứ thế tương tự. Như vậy, trước tiên, hành giả phát triển chánh định đến lúc ánh sáng sáng rực và xuyên thấu tỏa ra. Hành giả quan sát đồng thời nhãn môn (nhãn tịnh sắc hay sắc thần kinh nhãn tức cakkhupasāda) và ý môn (bhavaṅga citta), và sau đó quan sát thấy một cảnh sắc đập vào hai môn đồng thời. Rồi hành giả phân biệt tiến trình tâm sanh khởi như sau.

–Bh–”Tī–Na–Da–Pa–Ca–Sp–St–Vo–Ja–Ja–Ja–Ja–Ja–Ja–Ja–Td–Td”–Bh–

Bh: dòng bhavaṅga – dòng hữu phần (hộ kiếp);

Tī: atīta–bhavaṅga – hữu phần vừa qua từ lúc cảnh đập vào môn đến lúc cảnh xuất hiện ở môn;

Na: bhavaṅga–calana – hữu phần rúng động sanh khởi khi cảnh xuất hiện ở môn;

Da: bhavaṅgu–paccheda – hữu phần dứt dòng; dòng hữu phần bị cắt đứt sau tâm (citta) này và tiến trình tâm (vīthi–citta) bắt đầu sanh khởi;

Pa: pañcadvārāvajjana – tâm hướng ngũ môn; nó bắt lấy hoặc chú ý đến cảnh;

Ca: cakkhu–viññāṇa – nhãn thức; nó thấy cảnh;

Sp: sampaṭicchana – tâm tiếp thâu; nó nhận cảnh do nhãn thức chuyển đến;

St: santīraṇa – tâm quan sát; nó xem xét cảnh;

Vo: voṭṭhapana – tâm đoán định; nó xác định cảnh là tốt hay xấu;

Ja: javana – tốc hành tâm (tâm đổng lực); nó biết cảnh và hưởng cảnh;

Td: tadālambana – tâm Thập Di (tâm Ðồng sở duyên – tâm Đăng ký – tâm Na cảnh); nó theo sau các tốc hành tâm (javana citta) và tiếp tục hưởng cảnh;

Bh: dòng bhavaṅga – dòng hữu phần (hộ kiếp).

Tương tự, tiến trình tâm sanh khởi ở nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn và thân môn khi các cảnh tương ứng xuất hiện ở các môn. Chúng ta chỉ cần đổi nhãn thức thành nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức hoặc thân thức ở các tiến trình tâm tương ứng.

Sau khi kết thúc mỗi tiến trình tâm trong năm tiến trình tâm trên, nhiều tiến trình tâm ở ý môn (lộ ý môn) sanh khởi lấy cảnh quá khứ để thẩm sát chi tiết các điểm đặc trưng (kích thước, hình dáng, tên gọi) của cảnh. Thực vậy, tâm hoạt động giống như một chiếc siêu máy tính lưu trữ hàng ngàn tỷ dữ liệu giác quan trong dòng tâm và nhận dạng bằng cách so khớp từng cảnh được quan sát ở hiện tại với dữ liệu đã lưu trữ.

Lộ ý môn độc lập cũng sanh khởi khi cảnh pháp xuất hiện ở ý môn như sau:

–Bh– “Na–Da–Ma–Ja–Ja–Ja–Ja–Ja–Ja–Ja–Td–Td”–Bh–

Các ký hiệu có biểu thị như đã miêu tả trước đây. “Ma” đại diện cho tâm hướng ý môn (manodvārāvajjana), giống với tâm đoán định (voṭṭhapana). “Td” sẽ bị vắng mặt đối với những cảnh lớn. Nó chỉ xuất hiện khi cảnh rất lớn và rất rõ ràng.

Sau khi phân biệt từng tâm trong tiến trình tâm, tiếp theo, hành giả thẩm sát các tâm sở phối hợp với từng tâm. Hành giả thẩm sát xem đặc tính xúc (phassa) từ xúc chạm giữa tâm và cảnh có hiện diện trong mỗi tâm hay không. Tiếp theo, hành giả thẩm sát xem đặc tính thọ (vedanā), tức là sự cảm giác hay cảm thấy cũng như sự thọ hưởng cảm giác, có hiện diện trong mỗi tâm hay không. Theo cách này, hành giả có thể phân biệt tất cả các tâm sở phối hợp với từng tâm như được biểu diễn ở bảng 2.

Bảng 2: Các Tâm Sở Phối Hợp Với Từng Tâm

Tâm hướng ngũ môn (Pañcadvārāvajjana)

Nhãn thức (Cakkhuviññāṇa)

Tâm tiếp thâu (Sampaṭicchana)

Tâm quan sát (Santīraṇa)

Tâm hướng ý môn (Manodvārāvajjana)

10 tâm sở (cetasika) 7 tâm sở (cetasika) 10 tâm sở (cetasika) 10 tâm sở (cetasika) 11 tâm sở (cetasika)
1. tâm 1. tâm 1. tâm 1. tâm 1. tâm
2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa)
3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā)
4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā)
5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā)
6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā)
7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya)
8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra)
9. tầm (vitakka) 9. tầm (vitakka) 9. tầm (vitakka) 9. tầm (vitakka)
10. tứ (vicāra) 10. tứ (vicāra) 10. tứ (vicāra) 10. tứ (vicāra)
11. thắng giải (adhimokkha) 11. thắng giải (adhimokkha) 11. thắng giải (adhimokkha) 11. thắng giải (adhimokkha)
12. hỷ* (pīti*) 12. cần (vīriya)

Như được miêu tả trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), có đến 21 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm căn tham, có đến 20 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm căn sân, có đến 33 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm hữu phần (bhavaṅga citta) và có đến 34 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm đại thiện (mahākusala citta). Sau khi phân biệt từng tâm sở (cetasika) phối hợp với từng tâm (citta), hành giả có thể phân biệt tất cả các tâm sở (cetasika) phối hợp với từng tâm (citta) hầu như đồng thời.

Đặc Tính Vô Ngã Trở Nên Rõ Ràng

Thật quan trọng là việc phân tích từng nhóm danh (ý) và từng nhóm sắc (rūpakalāpa) thành các thành phần tột cùng (ultimate components) để biết các thực thể tột cùng (paramattha), để thành tựu “ghana vinibbhoga”, phá vỡ tính khối (phân tích các nhóm hoặc tuệ phân tích từng cá thể trong một nhóm), và để thấu suốt đặc tính vô ngã hay không có linh hồn (anatta).[51],[52]

Đặc tính vô ngã (anatta) chỉ được biết trong Giáo Pháp của Đức Phật; nó không được biết ngoài Giáo Pháp của Đức Phật (Buddha sāsana).[53]

Đặc tính vô ngã (anatta) không rõ ràng và không nhận biết được vì nó bị che phủ bởi “ghana” (tính khối như nhóm hay tảng). Nếu “ghana” có thể bị phá vỡ hoặc được phân tích, đặc tính vô ngã (anatta) trở nên rõ ràng và hiển nhiên như nó thực sự là.[54],[55] (Abhi. ṭha–2,47)

Khi hành giả đã xác định hết tất cả các tâm (citta), tâm sở (cetasika) và các sắc (rūpa) ở nội thân là tâm và thân mình, hành giả xác định danh – sắc ở ngoại thân theo cách tương tự để biết rằng mọi người được tạo thành từ năm uẩn.

Năm Thủ Uẩn (upādānakkhandha) phải được thẩm sát trong thiền Vipassanā là:

1. Rūpupādānakkhandha: sắc thủ uẩn bao gồm 28 loại sắc (rūpa);

2. Vedanupādānakkhandha: thọ thủ uẩn bao gồm các tâm sở thọ (vedanā cetasika) phối hợp với 81 tâm hiệp thế (lokiya citta);

3. Saññupādānakkhandha: tưởng thủ uẩn bao gồm các tâm sở tưởng (sañña cetasika) phối hợp với 81 tâm hiệp thế (lokiya citta);

4. Saṅkhārupādānakkhandha: hành thủ uẩn bao gồm 50 tâm sở hiệp thế (lokiya cetasika) ngoại trừ tâm sở thọ (vedanā) và tâm sở tưởng (saññā);

5. Viññāṇupādānakkhandha: thức thủ uẩn bao gồm 81 tâm hiệp thế (lokiya citta).

Khi hành giả thấu hiểu rõ ràng rằng chỉ có năm uẩn sanh và diệt một cách cực kỳ nhanh chóng, không ngừng và không có một thực thể tồn tại riêng biệt nào có thể được gọi là “người”, “tự ngã”, “linh hồn” hoặc “cái tôi” cả, hành giả có thể xua đuổi được tà kiến là “thân kiến” (sakkāya–diṭṭhi) và chứng đạt kiến thanh tịnh (diṭṭhi–visuddhi).

Trí Xác Định Danh–Sắc

Trí xác định từng tâm (citta), từng tâm sở (cetasika) và từng loại sắc (rūpa) theo các đặc tính, nhiệm vụ, biểu hiện và nhân gần của chúng được gọi là “nāmarūpa–pariccheda–ñāṇa” – Trí Xác Định Danh–Sắc.

Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa–visuddhi)

Hành giả sau khi đã xác định danh–sắc cả bên trong lẫn bên ngoài thì phải phân biệt sâu hơn các nhân sanh ra các danh–sắc này. Nếu không, hoài nghi hoặc tà kiến có thể nảy sinh nơi hành giả. Như vậy, hành giả phân biệt bốn nhân: nghiệp (kamma), tâm (citta), thời tiết (utu), dưỡng chất (āhāra) sanh ra sắc.

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Sắc

Sau khi phát triển ánh sáng thiền chói lọi và xuyên thấu, hành giả tập trung chú ý đến tâm (citta) sanh khởi dựa vào tâm căn (heart–base) ở bên trong trái tim cũng như trên ngón tay trỏ của mình. Khi hành giả định co ngón tay trỏ và thực sự co ngón tay đó, hành giả có thể quan sát hàng ngàn sắc do tâm sanh (cittaja–rūpa) được sanh bởi các tâm (citta) làm cong ngón tay. Thực vậy, hành giả có thể hiểu rằng tất cả các chuyển động cơ thể của mình được tạo ra bởi sắc do tâm sanh (cittaja–rūpa).

Tiếp theo, hành giả tập trung chú ý vào một nhóm sắc (rūpa–kalāpa) và phân biệt một chuỗi các nhóm sắc do thời tiết sanh (utuja rūpakalāpa) được sanh ra bởi sắc thời tiết utu (lửatejo) trong nhóm (kalāpa) ấy. Hành giả cũng có thể phân biệt một dòng các nhóm sắc do vật thực sanh (āhāraja rūpakalāpa) được sanh bởi sắc dưỡng chất (āhāra) trong nhóm (kalāpa) khi kết hợp với dưỡng chất bên ngoài. Khi hành giả có thể phân biệt nghiệp (kamma) gây ra kiếp hiện tại, hành giả cũng có thể quan sát các sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa) đang được sanh ra không ngừng bởi nghiệp (kamma) ấy.

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Danh

Tiếp theo, hành giả thẩm sát với chánh tư duy (sammāsaṅkappa) và chánh kiến (sammādiṭṭhi) các nhân sanh ra danh. Lại nữa, với sự trợ giúp của ánh sáng thiền chói lọi, xuyên thấu, hành giả phân biệt rõ ràng rằng tiến trình tâm nhãn môn phát sanh bởi xúc chạm giữa nhãn môn và cảnh sắc; tiến trình tâm nhĩ môn phát sanh bởi xúc chạm giữa nhĩ môn và cảnh thanh, và cứ tương tự như vậy.[56]

Mười Sáu Loại Hoài Nghi Gắn Với Quá Khứ, Tương Lai Và Hiện Tại

Giờ đây vẫn có năm loại hoài nghi hoặc không chắc chắn về quá khứ: “Ðời trước có ta phải không? Ðời trước không có ta phải không? Ðời trước ta là gì? Ðời trước ta như thế nào? Ðời trước của ta từ đâu sanh lại?” Cũng vậy, tồn tại năm loại hoài nghi về tương lai: “Ðời sau có ta phải không? Ðời sau không có ta phải không? Ðời sau ta là gì? Ðời sau ta như thế nào? Ðời sau ta chết sẽ sanh về đâu?” Cũng vậy có sáu loại hoài nghi về hiện tại: “Là ta chăng? Không phải là ta chăng? Hiện giờ ta là cái gì? Hiện giờ ta như thế nào? Từ kiếp sống nào ta sanh ra ở kiếp này? Nếu ta chết ta sẽ sanh về đâu?[57],[58]

Phân Biệt Quan Hệ Nhân Quả Theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)

Để làm sáng tỏ mười sáu loại hoài nghi này, hành giả phải phân biệt một cách sâu sắc quan hệ nhân–quả theo Pháp Duyên Khởi hay Y Tương Sinh hay Duyên Sinh (Paṭiccasamuppāda). Đức Phật nhắc nhở ngài Ānanda rằng chúng sanh phải trải qua các vòng luân hồi, hết kiếp này đến kiếp khác bởi vì họ không hiểu biết đúng đắn và thấu suốt quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi.[59]

Ngoài ra, điều đó còn được chỉ rõ trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[60]) và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[61]) là: “Không một ai, dù là trong giấc mơ, thoát ra khỏi vòng luân hồi khổ sở, trừ phi người ấy với thanh gươm tuệ được khéo mài trên đá định cao thượng, chặt đứt cỗ xe luân hồi (saṁsāra), mà lại không có năng lực thấu suốt quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) của cỗ xe luân hồi”.

Như vậy, quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) phải được phân biệt và xác minh bằng trí minh sát để làm sáng tỏ tất cả các hoài nghi và làm thẳng lại tất cả các tà kiến. Theo chỉ dẫn được đưa ra trong Chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[62]):

(1) Năm nhân quá khứ – tức là, vô minh (avijjā), hành nghiệp (saṅkhāra), tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp hữu (kamma–bhava) – phải được thẩm sát và phân biệt trước tiên, và sự phát sanh năm quả hiện tại – tức là, thức quả (vipāka viññāṇa), danh–sắc (nāma–rūpa), lục nhập (saḷāyatana), xúc (phassa) và thọ (vedanā) – do năm nhân quá khứ phải được quan sát rõ ràng bằng tuệ nhờ thiền minh sát.

(2) Năm nhân hiện tại – tức là, vô minh, tham ái, chấp thủ, hành nghiệp, và nghiệp hữu phải được phân biệt tiếp theo và sự phát sanh năm quả tương lai – tức là, thức quả, danh–sắc, lục nhập, xúc và thọ – do năm nhân hiện tại phải được quan sát rõ ràng bằng tuệ nhờ thiền minh sát. Ở đây các nhân tạo thành chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya–sacca) và các quả tạo thành chân lý về khổ (dukkha–sacca).

Do vậy, hành giả phải quan sát bằng tuệ:

(1) sự sanh của chân lý về khổ (dukkha sacca) ở hiện tại bởi chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya sacca) ở quá khứ,

(2) sự sanh của chân lý về khổ (dukkha sacca) ở tương lai bởi chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya sacca) ở hiện tại.

Để thành tựu mục tiêu này, hành giả, là người có thể phân biệt sự sanh và diệt của danh–sắc cả bên trong lẫn bên ngoài, phát triển chánh định và quan sát chi tiết danh–sắc của mình trong khi đang cúng dường vật thực đến tượng Phật. Rồi hành giả đi đến thiền đường, quan sát sự sanh và diệt của danh–sắc và truy ngược lại đến khi có thể phân biệt sự sanh và diệt của danh–sắc khi đang cúng dường vật thực đến tượng Phật. Nếu hành giả có thể thấy danh–sắc như đã thấy khi cúng dường vật thực đến Đức Phật, lúc đó hành giả có thể phân biệt danh–sắc ở quá khứ gần.

Sau đó, hành giả có thể tiếp tục truy ngược lại chuỗi danh–sắc để quan sát sự sanh và diệt của danh–sắc của chính mình trong các sự việc nổi bật diễn ra ngày hôm qua, hai ngày trước đó, – một tuần trước, hai tuần trước, – một tháng trước hai tháng trước, – một năm trước, hai năm trước, – đến khi có thể phân biệt được danh–sắc vào lúc thụ thai trong bụng mẹ của mình.

Như vậy, bây giờ, hành giả biết năm quả hiện tại gắn liền với sự hiện hữu hiện tại: tâm tục sanh (kiết sanh thức) (thức quả) và các tâm sở phối hợp (danh), các sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa) và lục nhập, xúc giữa căn với cảnh và thọ quả.

Sau đó, hành giả tiếp tục truy ngược lại chuỗi danh – sắc đến ngay kiếp sống trước. Hành giả có thể thật sự quan sát kiếp quá khứ của mình, các sự kiện quan trọng và các hành động đã làm trong kiếp sống đó. Sau đó, hành giả tập trung tâm mình trên danh–sắc khởi sanh lúc sắp lâm chung khi tướng cận tử (maraṇāsanna nimitta) đang xuất hiện. Từ tướng này, hành giả phân biệt các hành nghiệp và nghiệp làm duyên cho sự phát sanh kiếp sống hiện tại. Hành giả cũng có thể phân biệt ba lực hỗ trợ, đó là, vô minh, tham ái và chấp thủ, từ tâm đi cùng. Tiếp theo, hành giả cố gắng phân biệt năm nhân quá khứ có sanh ra năm quả hiện tại hay không. Hành giả có thể thấy sự sanh của năm quả do năm nhân nếu chúng thể hiện quan hệ nhân quả thực sự.

Sau đó, hành giả truy ngược lại chuỗi danh – sắc trong kiếp quá khứ của mình đến khi phân biệt được tâm tục sanh (thức quả), các tâm sở phối hợp (danh), các sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa), lục nhập, xúc giữa căn với cảnh và thọ quả. Rồi hành giả tiến lên truy ngược lại chuỗi danh–sắc ngược đến kiếp sống quá khứ thứ hai để tìm thấy năm nhân trong kiếp sống đó gây ra năm quả ở kiếp sống quá khứ thứ nhất. Nếu hành giả thành công, hành giả có thể tiến đến tìm kiếm quan hệ nhân quả giữa kiếp sống quá khứ thứ ba và kiếp quá khứ thứ hai.

Hành giả cũng phải phân biệt quan hệ nhân quả giữa kiếp hiện tại này với kiếp tương lai. Như vậy, hành giả lại cúng dường vật thực đến Đức Phật, thực hiện một ước nguyện về những gì mình muốn ở kiếp sống tiếp theo. Nếu hành giả nguyện ước trở thành một thiên nhân, lúc đó suy nghĩ rằng kiếp thiên nhân thực sự có tồn tại là vô minh, nguyện ước trở thành một thiên nhân là tham ái và chấp thủ vào ước nguyện đó là chấp thủ (upādāna). Thiện tâm và ý muốn cúng dường vật thực đến Đức Phật của hành giả là hành nghiệp, và hạt giống nghiệp (kamma) đã gieo trong dòng danh và sắc của hành giả là nghiệp hữu (kamma–bhava). Như vậy, bây giờ, hành giả đã gieo năm nhân làm duyên cho kiếp sống mới sanh ra.

Sau đó, hành giả cố gắng chăm chú quan sát kiếp sống mới sẽ sanh ra vì năm nhân hiện tại. Thông thường, hành giả quan sát một kiếp sống mới mà có thể hoặc không là kiếp sống mà hành giả ước nguyện. Dù sao đi nữa, hành giả phân biệt tâm tục sanh (thức quả) và các tâm sở phối hợp (danh), các sắc do nghiệp sanh (kammaja–rūpa) và lục nhập, xúc giữa căn với cảnh và thọ quả vào lúc tái sanh kiếp sống mới. Hành giả cố gắng phân biệt xem năm nhân ở hiện tại có sanh ra năm quả ở tương lai hay không. Nếu chúng là quan hệ nhân quả thật sự, hành giả có thể quan sát sự sanh của năm quả ở tương lai do năm nhân ở hiện tại. Hành giả tiếp tục phân biệt quan hệ nhân quả giữa kiếp tương lai thứ nhất và kiếp tương lai thứ hai theo cách tương tự, và cứ thế tiếp tục cho đến khi hành giả quan sát thấy rằng không còn kiếp tương lai nào nữa.

Như vậy, bây giờ, hành giả đã phân biệt thành công quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) ở ba thời là các kiếp quá khứ, kiếp hiện tại, các kiếp tương lai của hành giả theo nghĩa năm nhân và năm quả:

Năm nhân có trong đời quá khứ;

Năm quả chúng ta tìm thấy trong đời hiện tại;

Năm nhân chúng ta đang tạo ra bây giờ,

Năm quả chúng ta sẽ gặt hái ở đời tương lai.[63]

Hành giả phân biệt xa hơn nữa quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) từ kiếp sống này đến kiếp sống khác theo nghĩa một nhân và một quả là

(1) do duyên vô minh (avijjā), hành nghiệp (saṅkhāra) sanh;

(2) do duyên hành nghiệp, thức quả (vipāka viññāṇa) sanh;

(3) do duyên thức quả, các tâm sở (cetasika) (danh – nāma) phối hợp và các sắc do nghiệp sanh (kammaja–rūpa) sanh;

(4) do duyên danh–sắc (nāma–rūpa), lục nhập (saḷāyatana) sanh;

(5) do duyên lục nhập, xúc (phassa) với cảnh sanh;

(6) do duyên xúc, thọ (vedanā) sanh;

(7) do duyên thọ, tham ái (taṇhā) sanh;

(8) do duyên tham ái, chấp thủ (upādāna) sanh;

(9) do duyên thủ, nghiệp hữu (kamma–bhava) và sanh hữu (upapatti–bhava) sanh;

(10) do duyên nghiệp hữu (trong kiếp hiện tại), sanh (jāti) (trong kiếp tương lai) sanh;

(11) do duyên sanh, già–chết (jarā–marana), sầu (soka), bi (parideva), khổ (dukkha), ưu (domanassa) và ai oán (upāyāsa) sanh.[64]

Sau khi phân biệt rõ ràng tất cả các quan hệ nhân quả từ kiếp sống quá khứ cực kỳ xa đến kiếp sống tương lai cuối cùng, hành giả có thể quan sát toàn bộ chuỗi sanh và diệt của danh–sắc mở rộng từ kiếp quá khứ cực kỳ xa đến kiếp tương lai cuối cùng. Như vậy, hành giả có thể thoát khỏi tất cả 16 hoài nghi đã được miêu tả trước đây cũng như các tà kiến như “Vô nhân kiến” (Ahetuka–diṭṭhi), “Tà kiến Đấng Tạo Hóa” (Visama–hetuka–diṭṭhi), “Vô quả kiến” (tà kiến không có quả của hành động) (Akiriya–diṭṭhi), “Vô hữu kiến” (Natthika–diṭṭhi), “Thường kiến” (tà kiến linh hồn bất tử) (sassata–diṭṭhi), và “Đoạn kiến” (tà kiến linh hồn đoạn diệt) (Uccheda–diṭṭhi).

Trí Phân Biệt Các Nhân Của Danh–Sắc (Nāma–Rūpa)

Khi hành giả phân biệt các duyên của danh–sắc theo cách này nghĩa là bằng quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi và từ bỏ hoài nghi về ba thời kỳ, lúc đó tất cả các trạng thái quá khứ, tương lai và hiện tại được hiểu biết theo đúng mối liên kết chết và tái sanh. Điều này đánh dấu trạng thái Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa–visuddhi). “Trí Phân Biệt Các Nhân Của Danh–Sắc” (Trí Phân Biệt Nhân Duyên) được biết là “Paccaya–pariggaha–ñāṇa”.

Đạo Và Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh (Maggāmagga–ñāṇadassana–visuddhi)

Sau khi xác định các tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rūpa) cả ở nội thân và ngoại thân, và sau khi phân biệt các quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi, hành giả đã sẵn sàng thọ trì đúng đắn thiền vipassanā. Tuy nhiên, hành giả phải làm trí về các thực thể tột cùng sáng tỏ hơn nữa bằng cách xác định lại từng thực thể một theo bốn khía cạnh: theo các đặc tính (lakkhaṇa) riêng, nhiệm vụ (rasa), biểu hiện (paccupaṭṭhāna), và nhân gần (padaṭṭhāna) cho sự sanh lên của chúng như đã được chỉ dẫn trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta[65]), các Chú Giải.[66],[67]

Sau khi xác định lại từng tâm (citta), từng tâm sở (cetasika) và từng sắc (rūpa), hành giả sẽ nhận thấy trí về các thực thể tột cùng trở nên rất rõ ràng.

Thọ Trì Thiền Vipassanā

Bây giờ, hành giả có thể thọ trì thiền Vipassanā bằng cách bắt đầu với cái dễ dàng hơn. Trước tiên, hành giả phân biệt 18 loại sắc thực (nipphanna rūpa) ở sáu môn và 42 thân phần (koṭṭhāsa) và quán bản chất vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) gắn liền với mỗi sắc (rūpa) ở từng môn cũng như từng thân phần.

Hành giả phân biệt bản chất sanh và diệt của từng sắc (rūpa) bằng tuệ của mình và quán bản chất vô thường là “anicca, anicca” (vô thường, vô thường), cả nội thân lẫn ngoại thân. Hành giả phân biệt bản chất không ngừng bị hành hạ bởi sự diệt của sắc (rūpa) và quán “dukkha, dukkha” (khổ, khổ) lặp đi lặp lại. Hành giả phân biệt rõ ràng bằng tuệ của mình sự vắng mặt của một thực thể thường hằng, bất diệt để có thể được gọi là “tự ngã” hoặc “linh hồn” và quán “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã).

Hành giả không nên tập trung tâm mình vào các hạt nhỏ (tức nhóm sắc hay tổng hợp sắcrūpa–kalāpa) khi quán tam tướng vì các hạt nhỏ này không phải là thực thể tột cùng và chúng sẽ biến mất khi việc hành thiền tiến triển. Thay vào đó, hành giả phân tích các hạt nhỏ để quan sát các sắc tột cùng (rūpa) (pathavī (đất), āpo (nước), tejo (lửa), vāyo (gió), vaṇṇa (màu), gandha (mùi), rasa (vị), ojā (dưỡng chất)…) và tập trung chú ý vào sự sanh và diệt nhanh chóng của các sắc tột cùng (rūpa) này.

Khi hành giả có thể phân biệt tam tướng của sắc (rūpa) hoàn toàn nhanh chóng và sâu sắc, hành giả phân biệt tam tướng của danh (nāma) gắn liền với sáu loại tiến trình tâm. Quan sát sự sanh và diệt nhanh chóng của từng tâm và các tâm sở đi cùng của nó ở mỗi sát-na tâm bằng tuệ của mình, hành giả quán lặp đi lặp lại “anicca, anicca” (vô thường, vô thường). Hành giả quán xét theo cách này trên tất cả các tâm (citta) và tâm sở (cetasika) trong sáu loại tiến trình tâm cả nội thân lẫn ngoại thân. Tương tự, hành giả phân biệt bản chất không ngừng bị hành hạ bởi sự diệt nhanh chóng của các tâm (citta) và các tâm sở (cetasika) và quán “dukkha, dukkha” (khổ, khổ). Lại nữa, hành giả phân biệt bằng tuệ của mình sự vắng mặt của một thực thể thường hằng, bất diệt để có thể được gọi là “tự ngã” hay “linh hồn” và quán “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã).

Sau đó, hành giả quán xét tam tướng của danh và sắc cùng nhau liên quan đến sáu loại tiến trình tâm. Tập trung tâm mình trên từng tâm và các tâm sở của nó, 54 loại sắc (rūpa) kết hợp với căn vật lý và cảnh, hành giả quán lặp đi lặp lại “anicca, anicca” (vô thường, vô thường) trên bản chất sanh và diệt, “dukkha, dukkha” (khổ, khổ) trên bản chất không ngừng bị hành hạ, và “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã) trên bản chất không có tự ngã và không có linh hồn.

Rồi hành giả thực hành addhāpaccuppanna vipassanā. Hành giả quán đặc tính vô thường của sắc từ lúc sanh đến lúc chết ít nhất một lần. Hành giả lặp lại quán đặc tính khổ và rồi đặc tính vô ngã. Hành giả tiếp tục quán xét bất kỳ một trong ba đặc tính mà hành giả thích cả bên trong lẫn bên ngoài.

Hành giả quán từng đặc tính trong ba đặc tính của danh từ lúc sanh ra đến khi chết đi theo cách tương tự. Hành giả nên thực hành bao trùm tất cả sáu loại tiến trình tâm. Rồi hành giả nên quán xét trên danh và sắc theo cách tương tự cả bên trong lẫn bên ngoài.

Tiếp theo, hành giả thực hành thiền Vipassanā gắn với quá khứ, đến hiện tại và đến tương lai. Trong tất cả các kiếp quá khứ, kiếp hiện tại, và các kiếp tương lai trong đó hành giả phân biệt các quan hệ nhân quả theo Pháp Duyên Khởi, từ lúc sanh đến lúc chết, hành giả quán tuần tự các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của riêng sắc, của riêng danh, của cả danh và sắc cùng với nhau.

Tiếp theo, hành giả thực hành thiền Vipassanā gắn với năm uẩn hiện tại. Hành giả phân biệt các sắc–thực (nipphanna rūpa) trong sáu môn và và 42 thân phần của kiếp hiện tại và tuần tự quán các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Hành giả cũng tập trung chú ý vào sự sanh và diệt của sắc thực bên ngoài và quán tuần tự các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã. Đây là sự quán về sắc uẩn.

Sau đó, hành giả phân biệt tâm sở thọ (vedanā cetasika) trong từng tâm của các tiến trình tâm ở sáu môn và tập trung vào sự sanh và diệt của nó, hành giả quán tuần tự các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của nó. Hành giả quán cả bên trong lẫn bên ngoài. Đây là sự quán về thọ uẩn. Sau đó, hành giả quán tuần tự tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn theo cách tương tự.

Tiếp theo hành giả thực hành thiền Vipassanā gắn với năm uẩn quá khứ, năm uẩn hiện tại và năm uẩn tương lai. “Bất kỳ sắc nào, bất kể ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, cao thượng hay hạ liệt, xa hay gần, hành giả xác định tất cả các sắc tuần tự là vô thường, là khổ và là vô ngã.[68],[69] Hành giả phân biệt các sắc thực ở sáu môn và 42 thân phần lần lượt trong các kiếp quá khứ, kiếp hiện tại và các kiếp tương lai và tuần tự quán các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng, cả bên trong lẫn bên ngoài. Hành giả cũng quán tuần tự thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn theo cách tương tự.

Thọ Trì Thiền Vipassanā Theo Bốn Mươi Cách

Tiếp theo, để tăng cường sự thấu hiểu về vô thường, khổ và vô ngã của năm uẩn, hành giả cần thấu hiểu các uẩn này bằng 40 cách, tức thấy chúng là vô thường, là khổ, là bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, tai họa, sầu khổ, là xa lạ, là tan rã, là bệnh dịch, ương ách, khủng khiếp, đe dọa, là phù du, khả hoại, không bền, là không được bảo vệ, không chỗ trú, không chỗ nương, là trống rỗng, vô dụng, trống không, vô ngã, là nguy hiểm, là phải chịu biến đổi, là không có cốt lõi, là gốc rễ của tai ương, là sát nhân, là phải chịu tiêu diệt, là hữu lậu, là hữu vi, là mồi của Ma vương (Māra), là phải chịu sanh, phải chịu già, phải chịu bệnh, phải chịu chết, phải chịu sầu, phải chịu bi ai, phải chịu ai oán, phải chịu cấu uế.[70]

Thiền Vipassanā Trên Các Nhân Và Các Quả Theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)

Tiếp theo, hành giả phân biệt các Pháp Chân Đế (paramattha dhamma) là các nhân và các quả theo Pháp Duyên Khởi trong chuỗi hiện hữu gắn liền với quá khứ, hiện tại và vị lai và xác định chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Ví dụ:

Do duyên vô minh (avijjā) sanh, hành (saṅkhāra) cũng sanh;

Vô minh (avijjā) sanh và diệt; như vậy, nó là vô thường,

Hành (saṅkhāra) cũng sanh và diệt; như vậy, nó cũng là vô thường.

Thiền Vipassanā Theo Bảy Phép Quán Sắc và Bảy Phép Quán Vô Sắc

Tiếp theo, hành giả thấu hiểu sắc và danh theo thuộc tính tam tướng của chúng qua trung gian là Bảy Phép Quán Sắc (rūpasattaka) và Bảy Phép Quán Vô Sắc (arūpāsattaka) như miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga).[71]

Khi hành giả thấu hiểu sắc và danh qua phương pháp của Bảy Phép Quán Sắc và Bảy Phép Quán Vô Sắc hoàn hảo và thiện xảo, pháp hành của hành giả với đề mục thiền về sắc (quán sắcrūpakammaṭṭhāna) và đề mục thiền về danh (quán danhnāmakammaṭṭhāna) đi đến viên mãn.[72]

Khi tuệ xác định sắc và danh là vô thường, khổ và vô ngã được mài sắc theo nhiều cách như đã miêu tả ở trên, sự sanh và diệt của các pháp (dhamma) này xuất hiện rất nhanh chóng và rõ ràng trong tuệ của hành giả. Bây giờ, hành giả tu tập sammasana–ñāṇa, “trí xác định danh–sắc là vô thường, khổ và vô ngã” (Trí Thẩm Sát Tam Tướng) đến mức độ cao nhất. Hành giả cũng thấu suốt một phần của mười tám Đại trí tuệ thiền Quán (Mahāvipassanā) và do vậy mà từ bỏ các pháp đối nghịch với những gì hành giả đã thấu suốt.[73]

Tu Tập Trí Sanh Diệt (Udayabbaya–ñāṇa)

Udayabbaya–ñāṇa là trí thấu hiểu rõ ràng danh–sắc ở sát-na sanh cũng như ở sát-na diệt cùng với tam tướng là vô thường, khổ và vô ngã.

Để tu tập trí này, hành giả xác định lại tất cả danh–sắc cùng với các nhân và quả theo Pháp Duyên Khởi là vô thường, khổ và vô ngã. Hành giả quán tam tướng lần lượt, cả bên trong lẫn bên ngoài, (1) riêng sắc mà thôi, (2) riêng danh mà thôi, và (3) cả danh–sắc cùng với nhau thuộc về hiện tại, đến quá khứ, và đến vị lai. Hành giả thực hành thiền Vipassanā bằng cách (1) quán xét các pháp sanh (samudayadhammānupassī), (2) quán xét các pháp diệt (vayadhammānupassī) và (3) quán xét các pháp sanh và diệt (samudaya–vaya–dhammānupassī).[74],[75],[76] Hành giả thực hành hoàn hảo đến khi thấu hiểu rõ ràng danh–sắc cùng với các nhân và các quả vào sát-na sanh (uppāda), vào sát-na trụ (ṭhīti) và vào sát-na diệt (bhaṅga).

Sự Xuất Hiện Các Ô Nhiễm Của Thiền Vipassanā

Bây giờ, Bốn Thánh Đế, Nguyên Lý của Pháp Duyên Khởi (Principles of Paṭiccasamuppāda) và tam tướng trở nên rõ ràng trong tuệ của hành giả. Trí Minh Sát yếu (Taruṇavipassanāñāṇa) phát sanh nơi hành giả. Cột mốc của trạng thái này là sự xuất hiện Mười Ô Nhiễm Của Thiền Vipassanā (Upakkilesa) ở dạng hào quang thân thể rực rỡ, trí sáng suốt, cực hỷ, tịnh, lạc, quyết định, tinh tấn, niệm, xả và tham chấp.[77] Khi những điều này xuất hiện, hành giả có thể suy nghĩ sai lầm rằng: “Ta chắc chắn đã đạt được Đạo, đã đạt được Quả”. Như vậy, hành giả lấy cái không phải là đạo thì cho là đạo và cái không phải là quả thì cho là quả. Hành giả buông rơi đề mục thiền và ngồi tận hưởng sự an lạc của mình với tham chấp, ngã mạn và tà kiến.

Trí Về Đạo và Phi Đạo

Nhưng nếu hành giả thiện xảo trong Pháp Học (pariyatti) hay được hướng dẫn bởi vị thầy, hành giả biết rằng chúng là các ô nhiễm của minh sát và rằng chúng sẽ làm phát sanh tham ái (taṇhā), mạn (māna) và tà kiến (diṭṭhi). Hành giả xem xét từng ô nhiễm và thấy chúng là “Đây không phải là của ta, đây không phải là ta, đây không phải là tự ngã của ta”. Hành giả cắt đứt sự tham chấp của mình đối với hào quang thân thể, hỷ, lạc… và nỗ lực tinh tấn tu tập minh sát (Vipassanā) vốn là con đường chánh. Đây là “Sự Thanh Tịnh bởi Tri Kiến về Những Gì là Đạo và Những Gì là Phi Đạo” (Đạo và Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh).

Đạo Hành Tri Kiến Thanh Tịnh (Paṭipadā–ñāṇadassana–visuddhi)

Sau khi an trú trí về con đường chánh, hành giả phấn đấu tu tập tám trí minh sát từ trí sanh diệt (udayabbayañāṇa) đến trí hành xả (saṅkhārupekhāñāṇa) và cũng như trí thuận thứ (anulomañāṇa).

Hành giả lại thọ trì thiền vipassanā, lần lượt xác định tam tướng (1) chỉ với sắc, (2) chỉ với danh, (3) cả sắc và danh, (4) năm uẩn (khandha) (5) mười hai xứ (āyatana), (6) mười tám giới (dhātu) bao gồm tất cả danh–sắc phát sanh ở sáu môn.

Thọ Trì Bốn Niệm Xứ (Anupassanā)

Tiếp theo, hành giả thực hành Bốn Niệm Xứ. Hành giả lại lần lượt xác định tam tướng đối với tất cả danh–sắc như trên, ưu tiên cho sắc trước rồi đến danh. Đây gọi là thân quán niệm xứ (kāyā–nupassanāsatipaṭṭhāna).

Tiếp theo, hành giả lần lượt xác định tam tướng đối với tất cả danh–sắc như trên, ưu tiên cho thọ. Đây gọi là quán thọ (vedanānupassanā). Ví dụ:

Căn sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Cảnh sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Thọ sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

(Tiếp tục với tất cả các danh phối hợp với thọ).

Tiếp theo, hành giả lần lượt xác định tam tướng đối với tất cả danh–sắc như trên, ưu tiên cho tâm (thức, citta). Đây gọi là quán tâm (cittanupassanā). Ví dụ:

Căn sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Cảnh sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Tâm sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

(Tiếp tục với tất cả các danh phối hợp với tâm).

Tiếp theo, hành giả lần lượt xác định tam tướng đối với tất cả danh–sắc như trên, ưu tiên cho xúc, tư,… Đây gọi là quán pháp (dhammānupassanā). Ví dụ:

Căn sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Cảnh sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Xúc (phassa) ( (cetanā),…) sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

(Tiếp tục với tất cả các danh phối hợp với xúc (phassa),…)

Thiền Vipassanā Bằng Cách Phân Biệt Tỉnh Giác Bốn Oai Nghi (Iriyāpatha–sampajañña)

Iriyāpatha nghĩa là các loại oai nghisampajañña nghĩa là tuệ quán xét (tỉnh giác). Hành giả phải phân biệt tất cả các tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rūpa), tức là năm uẩn, trong khi hành giả ở bất kỳ oai nghi nào: đi, đứng, ngồi, nằm, duỗi, cong… Hành giả phải nhận thức ý định về bất kỳ chuyển động nào; hành giả phải nhận thức về chuyển động và kết quả của chuyển động. Hành giả cũng phải phân biệt tất cả danh–sắc (năm uẩn) sanh ra ở sáu môn.

Rồi hành giả lần lượt xác định tam tướng (1) chỉ với sắc, (2) chỉ với danh, (3) cả sắc và danh, trong năm uẩn mà hành giả phân biệt ở mỗi oai nghi cũng như ở sáu môn. Hành giả quán xét tất cả danh–sắc cả bên trong lẫn bên ngoài thuộc về quá khứ, đến hiện tại và đến vị lai. Hành giả phấn đấu đến khi có thể phân biệt danh–sắc vào sát-na sanh, vào sát-na trụ và vào sát-na diệt.

Tiếp theo, hành giả phân biệt các nhân và các quả theo Pháp Duyên Khởi của danh–sắc và xác minh bằng thắng trí của mình rằng

(1) do nhân sanh, quả sanh;

(2) do nhân diệt, quả diệt;

(3) do nhân sanh và diệt, quả sanh và diệt.

(4) phân biệt lại sự sanh và diệt của các nhân và các quả, hành giả lần lượt xác định tam tướng cả ở bên trong lẫn bên ngoài thuộc về quá khứ, đến hiện tại, và đến tương lai. Từng lúc, hành giả cũng quán xét bản chất bất tịnh của danh–sắc. Hành giả phấn đấu viên mãn Trí Sanh Diệt (Udayabbayañāṇa).

Tiến Đến Quán Sự Hoại Diệt (Bhaṅgānupassanā)

Khi hành giả lặp lại quan sát theo cách này, xem xét và thẩm sát danh–sắc, các nhân và quả để thấy rằng chúng là vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh, trí thiền đi trước liên kết với trí thiền đi sau. Như vậy, trí minh sát (vipassanāñāṇa) của hành giả trở nên rất mạnh mẽ và rất sắc sảo, bén nhọn và thuần khiết. Hành giả không còn mở rộng niệm đến sự sanh nữa mà đem nó quy vào sự tan rã của chúng.

“Khaya vaya bheda nirodheyewa satisantiṭṭhati”[78]

Với sự hỗ trợ đầy sức mạnh của trí minh sát đi trước, niệm kết hợp với trí minh sát đi sau trở nên khéo an trú trên tính tàn lụi, tan rã và hoại diệt của các hành.

(1) Aniccaṁ khayaṭṭhena – quan sát bản chất tàn lụi, tan vỡ, tan rã và biến mất của các hành bằng thắng trí, hành giả quán xét “anicca, anicca” (vô thường, vô thường) lặp đi, lặp lại.

(2) Dukkhaṁ bhayaṭṭhena – quan sát bản chất khủng khiếp của tàn lụi, tan vỡ, tan rã và biến mất của các hành bằng thắng trí, hành giả quán xét “dukkha, dukkha” (khổ, khổ) lặp đi, lặp lại.

(3) Anattā asārakaṭṭhena – quan sát bản chất không có cốt lõi, không có tự ngã và không có linh hồn của các hành bằng thắng trí, hành giả quán xét “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã) lặp đi, lặp lại.

(4) Hành giả cũng quán xét bản chất bất tịnh của các hành vào từng lúc.

Khi hành giả đã phá vỡ tính khối của danh và sắc bằng cách thâm nhập vào các thực thể tột cùng trong nhóm danh và nhóm sắc (rūpakalāpa) khi tu tập Trí Xác Định Danh–Sắc (nāmarūpaparicchedañāṇa) và kiến thanh tịnh, bây giờ, nhóm sắc (rūpakalāpa) không còn rõ ràng nữa. Vì trí minh sát của hành giả rất sắc sảo và bén nhọn, các thực thể tột cùng (paramattha dhamma – pháp chân đế) của các hành trở nên rất nhanh chóng rõ ràng trong trí của hành giả. Vì chúng xuất hiện và tan rã quá nhanh đến nỗi hành giả không còn có thể quan sát được sự sanh và hiện hữu của chúng nữa; hành giả chỉ quan sát thấy sự hoại diệt của chúng.

Trí quán sự hoại diệt” này được gọi là “bhaṅga-ñāṇa”.

Thọ Trì Minh Sát Trí Đạt Tri (Ñāta–Ñāṇa Vipassanā)

Ñāta” nghĩa là danh–sắc, các nhân và các quả đã hiện hữu trong quá khứ, hiện hữu trong hiện tại, và sẽ hiện hữu trong tương lai, cả bên trong lẫn bên ngoài.

Ñāṇa” nghĩa là trí phân biệt các hành đã được biết là ñāta là vô thường, khổ và vô ngã. Nó là tâm sở tuệ (paññā cetasika) phối hợp với các tốc hành tâm (javana citta) của tiến trình tâm ở ý môn.

Theo chỉ dẫn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[79]), bây giờ, hành giả phải phân biệt cả ñāta ñāṇa là vô thường, khổ và vô ngã. Ví dụ:

(1) Hành giả phân biệt sắc, sắc diệt – anicca (vô thường). Trí phân biệt cũng diệt – anicca (vô thường).

(2) Hành giả phân biệt danh, danh diệt – anicca (vô thường). Trí phân biệt cũng diệt – anicca (vô thường).

Hành giả lần lượt phân biệt các hành là vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anatta) (1) bên trong một lúc, (2) bên ngoài một lúc, (3) trên sắc một lúc, (4) trên danh một lúc, (5) trên các nhân một lúc, (6) trên các quả một lúc, (7) trên các hành quá khứ một lúc, (8) trên các hành hiện tại một lúc, (9) trên các hành tương lai một lúc. Hành giả có thể ưu tiên cho các pháp (dhamma) mà mình có thể phân biệt tốt hơn. Theo Mahā Ṭīka[80], cần thiết phải thọ trì thiền vipassanā theo nhiều cách để làm Trí Quán Sự Hoại diệt (bhaṅgañāṇa) viên mãn.

Hành giả cũng nên chỉ phân biệt sự diệt của các nhân và các quả theo Pháp Duyên Khởi cả bên trong lẫn bên ngoài thuộc về ba thời và quán xét là:

Vô minh (Avijjā) diệt – anicca (vô thường); trí quán cũng diệt – anicca (vô thường).

Hành (Saṅkhāra) diệt – anicca (vô thường); trí quán cũng diệt – anicca (vô thường) và v.v.

Sự Sanh Khởi Trí Về Sự Xuất Hiện Kinh Hãi (Trí Kinh Úy) (Baya-ñāṇa)

Khi hành giả lặp lại tu tập và trau dồi theo cách quán sự diệt của các hành bao gồm tất cả các loại hiện hữu, thế hệ, số phận, địa vị hoặc trú xứ của chúng sanh thì xuất hiện sự kinh hãi khủng khiếp. Sự hành hạ không dứt gây ra bởi sự diệt không ngừng của các hành trở nên rất rõ ràng là sự khổ đau cùng cực và sự kinh hãi khủng khiếp.

Khi hành giả thấy được như thế nào mà các hành quá khứ đã diệt, các hành hiện tại đang diệt và các hành sẽ sanh ra trong vị lai sẽ diệt, theo cùng một cách, rồi trí được gọi là “Trí Về Xuất Hiện Sự Kinh Hãi” (Trí Kinh Úy) phát sanh nơi hành giả vào giai đoạn đó.

Sự Sanh Khởi Trí Thấy Rõ Khuyết Điểm Và Sự Bất Toại Nguyện (Trí Hiểm Nguy) (Ādīnava-ñāṇa)

Khi hành giả lặp đi lặp lại, tu tập và trau dồi trí xuất hiện sự kinh hãi, hành giả thấy rằng không có nơi ẩn náu, không nơi che chở, không nơi để đi, không có nơi nương tựa nào trong bất kỳ loại hiện hữu, thế hệ, số phận, địa vị hay trú xứ. Ba loại hiện hữu xuất hiện như hầm than cháy rực, tứ đại như nơi trú ẩn của rắn độc, năm uẩn như kẻ sát nhân với vũ khí giương lên, sáu nội căn như ngôi làng trống rỗng, sáu ngoại căn như ngôi làng bị kẻ cướp tấn công, bảy trú xứ của thức và chín trú xứ của chúng sanh như thể bị thiêu đốt, nóng rực và rực sáng với mười một ngọn lửa. Tất cả các hành xuất hiện như là một khối khổng lồ các hiểm nguy và các khuyết điểm, bất toại nguyện hoặc không thực chất, như khối u, bệnh tật, mũi tên, tai ương, đau đớn.[81],[82]

Như vậy, bằng sức mạnh của quán sự hiểm nguy, quán sự hoại diệt (bhaṅganupassanā), tất cả các hành xuất hiện như các hiểm nguy khủng khiếp, và trí thấy rõ khuyết điểm và bất toại nguyện nơi chúng, phát sanh nơi hành giả.

Sự Sanh Khởi Trí Cảm Thọ Nhàm Chán Và Ghê Tởm (Trí Yểm Ly) (Nibbidā-ñāṇa)

Khi hành giả thấy tất cả các hành là hiểm nguy, đầy các khuyết điểm và bất toại nguyện, hành giả trở nên hướng đến thản nhiên, không hài lòng, không ham thích, trở nên nhàm chán với tất cả các dạng hành thuộc bất kỳ loại hiện hữu, số phận, địa vị hay trú xứ nào. Như vậy, trí về cảm thọ nhàm chán và ghê tởm với tất cả các loại hành cũng trở nên rõ ràng.[83]

Sự Sanh Khởi Trí Khao Khát Giải Thoát (Trí Dục Thoát) (Muñcitukamyatā-ñāṇa)

Khi hành giả cảm thấy nhàm chán và ghê tởm với tất cả các hành là cái đang hoại diệt không ngừng, hành giả không hài lòng với chúng, không ham thích chúng, không còn tham chấp với bất kỳ dù chỉ một trong tất cả các dạng hành trong bất kỳ loại hiện hữu, thế hệ, số phận, địa vị hay trú xứ. Hành giả khao khát được giải thoát khỏi phạm vi của các hành và đang giải thoát khỏi nó.

Giống như cá bị mắc trong lưới, con ếch nằm trong miệng rắn, con gà rừng bị nhốt trong lồng, con nai rơi vào ngàm của một cái bẫy chắc chắn, một người bị bao vây bởi quân thù muốn được giải thoát và thoát khỏi những thứ này, cũng vậy, hành giả muốn giải thoát khỏi toàn bộ phạm vi của các hành và thoát khỏi nó. Như vậy, trí khao khát giải thoát cũng phát sanh nơi hành giả.[84]

Sự Sanh Khởi Trí Nỗ Lực Giải Thoát (Trí Quyết Ly) (Paṭisaṅkhā-ñāṇa)

Hành giả, người khao khát giải thoát khỏi các hành trong ba mươi mốt cõi thuộc về ba thời, phân biệt lại các hành đó, quy cho chúng ba đặc tính bằng trí quán cho sự giải thoát hoàn toàn. Hành giả thấy tất cả các hành là vô thường vì chúng (1) không thể ra ngoài sự hoại diệt, (2) hiện hữu tạm thời, (3) bị giới hạn bởi sanh và diệt, (4) bị tan rã, (5) phù du, (6) dễ hư hoại, (7) không bền, (8) phải chịu biến hoại, (9) không có cốt lõi, (10) phải chịu chết.

Hành giả thấy chúng là khổ vì chúng là (1) sự hành hạ không dứt, (2) không thể chịu đựng được, (3) nền tảng của khổ đau, (4) bệnh hoạn, (5) khối ung nhọt, (6) mũi tên, (7) tai họa, (8) sầu khổ, (9) bệnh dịch, (10) ương ách, (11) kinh hãi, (12) không có sự bảo vệ, (13) không có nơi che chở, (14) không có nơi nương tựa, (15) là hiểm nguy, (16) cội nguồn của tai ương, (17) sát nhân, (18) phải chịu lậu hoặc, (19) miếng mồi của Ma Vương (Māra), (20) phải chịu sanh, (21) phải chịu già, (22) phải chịu bệnh tật, (23) phải chịu sầu khổ, (24) phải chịu bi ai, (25) phải chịu ai oán, (26) phải chịu cấu uế v.v.

Hành giả thấy tất cả các hành là vô ngã vì chúng là (1) kẻ xa lạ, (2) không có linh hồn, (3) hão huyền, (4) trống rỗng, (5) vô chủ, (6) không chịu kiểm soát, (7) có thể thay đổi để phù hợp với mong muốn của kẻ khác, v.v.

Hành giả thấy chúng là bất tịnh vì chúng là (1) đáng chê trách, (2) hôi hám, (3) ghê tởm, (4) gớm guốc, (5) dù có ngụy trang cũng vô ích, (6) xấu xa, (7) đáng ghét, v.v.

Khi hành giả phấn đấu theo cách này, trí nỗ lực cho sự giải thoát trở nên rõ ràng nơi hành giả.[85]

Sự Sanh Khởi Trí Hành Xả (Saṅkhārupekkhāñāṇa)

Hành giả phân biệt lặp đi lặp lại các hành, các nhân và các quả trong ba mươi mốt cõi hiện hữu bằng cách lần lượt quy cho chúng bản chất vô thường, bản chất khổ, bản chất bất tịnh, bản chất vô ngã, đôi khi bên trong và đôi khi bên ngoài, bản chất hoại diệt của các hành trở nên rõ ràng rất nhanh chóng. Hành giả tiếp tục lần lượt xác định tam tướng trên bản chất của sự hoại diệt.

Tâm thiền của hành giả dần từ bỏ cả kinh sợ lẫn ham thích với các hành và trở nên quân bình, không thiên vị và trung lập. Nó trở nên an trú định tĩnh trên sự diệt của các hành.

Sau đó, nếu tâm thiền vẫn an tịnh trong việc phân biệt các hành bên trong, hành giả tiếp tục phân biệt lần lượt sắc và danh bên trong. Nếu, mặt khác, tâm thiền vẫn an tịnh trong việc phân biệt các hành bên ngoài, hành giả tiếp tục phân biệt lần lượt sắc và danh bên ngoài. Trong tam tướng, hành giả đặt ưu tiên cho tướng nào mà hành giả có thể quán xét tốt hơn.

Vào giai đoạn này, tín (saddhā) và tuệ (paññā), tinh tấn (vīriya) và định (samādhi) phải đặc biệt quân bình bằng niệm (sati). Tất cả năm căn (indriya) phải được quân bình để tiến đến giác ngộ.

Khi tâm thiền được an trú định tĩnh trên sự hoại diệt của các hành, hành giả sẽ không nghe thấy âm thanh bên ngoài. Nếu tâm thiền định tĩnh gắn chặt với sự hoại diệt của các hành là không lay chuyển, thiền minh sát trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Hành giả có thể tiếp tục phân biệt các hành mà mình có thể phân biệt tốt hơn, đặt ưu tiên cho tướng nào mà hành giả có thể quán xét tốt hơn. Nếu hành giả chỉ quan sát sự hoại diệt của danh mà không quan sát sự hoại diệt của sắc, thì hành giả chỉ phải tập trung phân biệt sự hoại diệt của danh mà thôi.

Bhayañca nandiñca vippahāya sabbasaṅkhāresu udāsino hoti mijjhatto.[86]

Hành giả, người thấy rõ ràng các khuyết điểm của các hành và thọ trì thiền vipassanā bằng cách phân biệt sự diệt của các hành với ước muốn mãnh liệt là để giải phóng khỏi tất cả các hành, thấy rằng không có gì có thể được yêu mến như là “của ta – ta – tự ngã của ta” nữa.

Từ bỏ hai thái cực là “kinh hãi” (bhaya) và vui thích (nandī) đối với các hành, hành giả trở nên không thiên vị và trung lập với chúng. Hành giả chẳng lấy chúng là “ta”, cũng chẳng phải “của ta”, cũng chẳng là “tự ngã của ta”; hành giả giống như người đàn ông đã ly dị người vợ không chung thủy. Trí dẫn hành giả đến giai đoạn bình thản này là “Trí Bình Thản Đối Với Các Hành” (“Trí Hành Xả”).

Trí Hành Xả (saṅkhārupekkhāñāṇa) này, nếu nó thấy Niết-bàn (Nibbāna), trạng thái an tịnh, là an lạc, thì sẽ xả ly tất cả các hành và chạy đến Niết-bàn. Nếu nó không thấy Niết-bàn là an tịnh, đối tượng của nó là các hành lại tiếp tục xuất hiện lặp đi lặp lại, giống như con quạ của người thủy thủ cứ lại quay về với con thuyền nếu nó không thấy đất liền.[87]

Nếu trí này chưa trưởng thành, hành giả tiếp tục phân biệt (1) các hành ở hiện tại một lúc, (2) các hành ở quá khứ một lúc, (3) cách hành ở tương lai một lúc, (4) các hành bên trong một lúc, (5) các hành bên ngoài một lúc, (6) các sắc một lúc, (7) các danh một lúc, (8) các nhân một lúc, (9) các quả một lúc, (10) vô thường một lúc, (11) khổ một lúc, (12) vô ngã một lúc, để làm trí này hoàn thiện.

Trí Thuận Thứ (Anulomañāṇa), Trí Chuyển Tộc, (Gotrabhuñāṇa), Trí Đạo (Maggañāṇa), Trí Quả (Phalañāṇa), Trí Phản Khán (Paccavekkhaṇañāṇa)

Khi hành giả lặp lại, tu tập và trau dồi sự quân bình với các hành, tín tâm của hành giả sẽ thêm kiên định, tinh tấn được sử dụng tốt hơn, niệm được an trú tốt hơn, tâm định tốt hơn, trong khi sự quân bình với các hành được tăng trưởng tinh tế hơn. Sau đó, khi tuệ thiền thoát ly khỏi sự diệt của các hành (được gọi là “pavatta”) và thấy bản chất vô vi và không bị hoại diệt của Niết-bàn (Nibbāna) (được gọi là “apavatta”), tiến trình tâm sau đây sanh khởi.

(Mandapaññā) – “Na–Da–Ma–Pa–U–Nu–Go–Magga– Phala–Phala” –Bh–

(Tikkhapaññā) – “Na–Da–Ma–U–Nu–Go–Magga– Phala–Phala–Phala” –Bh–

Na = bhavaṅga–calana hữu phần (hộ kiếp) rúng động

Da = bhavaṅgu–paccheda hữu phần (hộ kiếp) dứt dòng

Ma = manodvārāvajjana tâm hướng ý môn

Pa = parikamma – chuẩn bị của Đạo (magga)

U = upacāra – cận hành của Đạo (magga)

Nu = anuloma – thuận thứ, phù hợp giữa cái đi trước và cái theo sau

Go = gotrabhu – chuyển tộc

Magga = sotāpattimagga – Đạo Nhập Lưu

Phala = sotāpatti–phala – Quả Nhập Lưu

Bh = bhavaṅga hữu phần (hộ kiếp)

Khi đối tượng của các hành là vô thường, hoặc khổ, hoặc vô ngã xuất hiện ở ý môn, tâm hữu phần (hộ kiếp) rúng động hai lần (Na–Da) và bị ngừng lại hay cắt đứt. Sau đó, tâm hướng ý môn (manodvārāvajjana) (Ma) hướng dòng tâm đến đối tượng, thẩm sát nó và quyết định xem nó là vô thường (anicca), khổ (dukkha) hay vô ngã (anatta). Sau đó, một trong bốn tâm đại thiện dục giới tương ưng trí (ñāṇasampayutta mahākusala citta) sanh khởi bốn lần, nhiệm vụ là chuẩn bị (Pa), cận hành (U), thuận thứ (Nu), và chuyển tộc (Go).

“Chuẩn bị” làm nhiệm vụ mở đầu cho việc chuẩn bị phát sanh Đạo.

“Cận hành” có nhiệm vụ là tiếp cận Đạo.

“Thuận thứ” làm cho thích ứng nhiệm vụ của chân lý trong tám loại trí minh sát đi trước và trong ba mươi bảy yếu tố giác ngộ (Bodhipakkhiya) theo sau.

Trí kết hợp với ba tâm (citta) này (chuẩn bị – parikamma, cận hành – upacāra, thuận thứ – anuloma) là trí minh sát cao nhất được biết là trí thuận thứ” (anuloma–ñāṇa).

Gotrabhu (chuyển tộc) không lấy các hành làm đối tượng; nó lấy Niết-bàn làm đối tượng của nó và chỉ ra Niết-bàn, để tâm Đạo (Magga citta) có thể sanh khởi lên sau nó, cũng lấy Niết-bàn làm đối tượng. Nó giống như con quạ của người thủy thủ chỉ ra đất liền để con thuyền có thể hướng đến đất liền. Nó được gọi là chuyển tộc vì nó thay đổi dòng dõi của hành giả từ phàm nhân (puthujjana) sang thánh nhân (ariya). Cho đến tâm chuyển tộc (gotrabhu citta), hành giả vẫn còn là một phàm nhân (là người bị trói chặt bởi mười kiết sử). Nhưng ngay khi tâm Đạo (Magga citta) sanh khởi, hành giả trở thành một thánh nhân.

Mặc dù trí thuận thứ (anulomañāṇa) là trí cuối cùng của minh sát dẫn đến sự giải thoát mà có các hành là đối tượng của nó, tuy nhiên, “trí chuyển tộc” (gotrabhuñāṇa) là trí cuối cùng trong tất cả các loại minh sát dẫn đến sự giải thoát.

Tâm Đạo (Magga citta) luôn luôn chỉ sanh khởi chỉ một lần, thực hiện bốn chức năng, đó là, (1) thấu rõ chân lý về khổ, (2) nhổ tận gốc rễ tham ái là nguồn gốc của khổ, (3) chứng ngộ Niết-bàn, và (4) phát triển trọn vẹn Thánh Đạo tám ngành.

Ngay sau khi tâm Đạo (Magga citta) diệt, quả của nó, tức là tâm Quả (Phala citta), sanh khởi hai lần không ngắt quãng theo thời gian (akāliko), lấy Niết-bàn (Nibbāna) làm đối tượng. Tiến trình tâm này là cho hành giả có tuệ chậm chạp (mandapaññā). Đối với hành giả có tuệ mau lẹ (tikkhapaññā), thì tâm chuẩn bị (parikamma) vắng mặt và tâm Quả (Phala citta) sanh khởi ba lần. Ngay khi tâm Quả sanh khởi, hành giả trở thành một vị thánh Nhập Lưu (sotāpanna[88]). Hành giả có thể thọ hưởng sự an lạc vô song của Niết-bàn theo ý muốn và được đảm bảo hoàn toàn rằng không bao giờ tái sanh trong các cõi khổ.

Trí kết hợp với tâm Đạo và tâm Quả được biết tương ứng là “trí Đạo” (Maggañāṇa) và “trí Quả” (Phalañāṇa).

Sau tiến trình tâm đạo (magga–vīthi) và một vài tâm hữu phần (bhavaṅga citta) trôi qua, thông thường, năm tiến trình tâm phản khán (paccavekkhaṇa–vīthi) phát sanh. Qua những tiến trình tâm (vīthi) này, hành giả (1) suy xét Đạo, (2) suy xét Quả, (3) suy xét Niết-bàn, (4) suy xét các phiền não (tà kiến (diṭṭhi) và hoài nghi (vicikicchā)) đã được đoạn diệt, và (5) suy xét các phiền não chưa được đoạn diệt. Trí kết hợp với các tốc hành tâm (javana citta) này được gọi là “trí phản khán” (paccavekkhaṇañāṇa).[89]

Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassana–visuddhi)

Nỗ lực làm thanh tịnh tâm từng bước một bắt đầu bằng tu tập giới để đạt thanh tịnh giới (sīlavisuddhi). Khi đạt được Trí thuận thứ, sáu giai đoạn thanh tịnh đầu tiên, tức là từ thanh tịnh giới (sīlavisuddhi) đến Đạo hành tri kiến thanh tịnh (paṭipadāñāṇadassanavisuddhi) đã được viên mãn. Vào lúc chứng ngộ Đạo và Quả lần đầu tiên, giai đoạn thanh tịnh cuối cùng này được gọi là Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassanavisuddhi) đã được chứng đạt.

“Tri Kiến Thanh Tịnh” bao gồm đúng bốn Đạo trí, đó là, Nhập Lưu Đạo, Nhất Lai Đạo, Bất Lai Đạo, và A-la-hán Đạo.

1. Sotāpattimagga Nhập Lưu Đạo

Đạo này nhổ tận gốc rễ hai phiền não (kilesa), đó là, tà kiến (diṭṭhi) và hoài nghi (vicikicchā) và ba kiết sử (saṁyojana), đó là, thân kiến (sakkāya–diṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā) và giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa). Nó cũng diệt trừ các khía cạnh thô của các phiền não khác để một vị thánh Nhập Lưu không làm bất kỳ hành động xấu ác nào. Vị thánh Nhập Lưu sẽ không bao giờ tái sanh trong các cõi khổ.

2. Sakadāgami–magga Nhất Lai Đạo

Đạo này không nhổ tận gốc rễ bất kỳ phiền não nào, nhưng nó làm giảm sức mạnh của các phiền não còn lại. Một vị thánh Nhất Lai sẽ chỉ bị tái sanh trong cõi dục một lần nữa mà thôi.

3. Anāgāmi–magga Bất Lai Đạo

Đạo này nhổ tận gốc rễ một phiền não nữa là sân (dosa), và hai kiết sử nữa là dục ái (kāmarāga) và sân hận (paṭigha). Một vị thánh Bất Lai sẽ không bị tái sanh trong cõi dục; vị ấy sẽ chỉ bị tái sanh trong cõi Phạm Thiên.

4. Arahanta–magga A-la-hán Đạo

Đạo này nhổ tận gốc rễ tất cả các phiền não và kiết sử còn lại. Như vậy, tâm của một vị A-la-hán thì hoàn toàn thanh tịnh. Một vị A-la-hán là một trong các vị Thánh mà các lậu hoặc đã bị diệt tận, vị ấy chỉ phải mang thân xác cuối cùng, các gánh nặng đã được đặt xuống, đã đạt được mục tiêu và đã tận diệt Hữu kiết sử, vị ấy có được chánh giải thoát với trí thù thắng và xứng đáng nhất cho thế gian và thiên chúng cúng dường.[90]

Điều này nên hiểu rằng tâm Quả (Phala–citta) tương ứng sẽ khởi sanh ngay tức khắc sau khi tâm Đạo (Magga–citta) tương ứng diệt và bốn loại người Quả này có thể thọ hưởng tương ứng quả an lạc của Niết-bàn (Nibbāna) nhiều như ý muốn.

Kết Luận

Các hướng dẫn cực kỳ chi tiết về thiền Vipassanā theo lời dạy của Đức Phật đã được miêu tả trong Tam Tạng Kinh Điển (Tipiṭaka), Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), các Chú giải và Phụ Chú Giải Pāḷi khác. Nhiều phương pháp thực hành được sử dụng cho việc thẩm sát, phân biệt và xác định danh–sắc, các nhân và các quả, nội thân và ngoại thân thuộc về quá khứ, hiện tại và tương lai để đạt các kết quả như đã được miêu tả trong kinh điển. Nhiều hành giả, với sự hỗ trợ đầy uy lực của chánh định, có thể thâm nhập đến các thực thể tột cùng và phân biệt chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Sự hướng dẫn gần gũi và đúng đắn của người thầy là thiết yếu, các buổi trình pháp liên tục và mật thiết cần được thực hiện để đảm bảo rằng các hành giả đi đúng đường mà không có bất kỳ sự sai lệch nào.

Nhiều hành giả hết sức hài lòng vì họ có thể thấu suốt sâu sắc phạm vi của thiền Vipassanā và phân biệt chân lý bằng thắng trí. Nhiều hành giả đã hoàn tất toàn bộ khóa thiền Vipassanā. Một số hành giả người Hoa từ Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Singapore ghi nhận rằng họ rất hoan hỷ thọ trì thiền Vipassanā theo từng chi tiết dựa trên ấn bản tiếng Hoa bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga).

Hòa Thượng Āciṇṇa, Trưởng Ban Thiền Sư Rừng Thiền Pa–Auk, đã viết tám Sổ tay Hành Thiền được các hành giả sử dụng như là sách chỉ đường, và năm tập sách lớn, tổng cộng 3.500 trang, mô tả chi tiết thiền Định (Samatha) – thiền Tuệ (Vipassanā) đang được dùng để hướng dẫn ở các Trung Tâm Rừng Thiền Pa–Auk với đầy đủ các lời giải thích và tham chiếu dưới tựa đề “Lộ Hành đến Niết-bàn” (Nibbānagāmini Paṭipadā).

Tham khảo

Tất cả các tham chiếu ở đây đều dựa vào Ấn Bản của Hội Đồng Phật Giáo Myanmar lần thứ sáu.

A.                 Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya)

Abh.A           Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)

D.                 Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)

D.A              Chú giải Trường Bộ Kinh (Dīgha Nikāya)

M.                Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)

MA.             Chú giải Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya)

S.                  Tương Ưng Bộ Kinh (Saṁyutta Nikāya)

SA.               Chú giải Tương Ưng Bộ Kinh (Saṁyutta Nikāya)

Ps.                Phân Tích Đạo (Paṭisambhidā Magga)

Vs.               Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga)

Vs.Tī            Phụ chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga)

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU.. 3

KHAI THÔNG THIỀN ĐỊNH (SAMATHA BHĀVANĀ) 5

TÓM LƯỢC. 7

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH.. 11

Giới Thiệu. 11

Yêu Cầu Tu Tập Định (Samādhi) Tâm.. 11

Thọ Trì Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati). 14

Phương Pháp Đếm.. 15

Nhận Biết Chiều Dài Hơi Thở Cũng Như Toàn Thân Hơi Thở  16

An Tịnh Hơi Thở. 17

Sự Xuất Hiện Tướng Của Định. 18

Tu Tập An Chỉ (appanā). 19

Năm Thiền Chi 22

Năm Cách Thuần Thục. 22

Bốn Thiền Bảo Hộ (Caturārakkha–kammaṭṭhāna). 24

Tu Tập Thiền Tâm Từ (Mettā–Bhāvanā). 24

Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati). 29

Thiền Quán Bất Tịnh (Asubha Bhāvanā). 30

Niệm Sự Chết (Maraṇānussati). 32

Tu Tập Định Bằng Các Biến Xứ (Kasiṇa). 34

Kết Luận. 36

Tham khảo. 37

KHAI THÔNG THIỀN TUỆ (VIPASSANĀ) 39

TÓM LƯỢC. 41

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH.. 45

Giới Thiệu. 45

Thanh Tịnh Tâm.. 46

Thanh Tịnh Tâm Khỏi Tà Kiến (Kiến Thanh Tịnh). 46

Xác Định Sắc (Quán Sắc) (Rūpa–kammaṭṭhāna hay Rūpa–pariggaha)  47

Xác Định Danh (Quán Danh) (Nāma–kammaṭṭhāna hay Nāma–pariggaha)  50

Đặc Tính Vô Ngã Trở Nên Rõ Ràng. 55

Trí Xác Định Danh–Sắc. 57

Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa–visuddhi). 57

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Sắc. 57

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Danh. 58

Mười Sáu Loại Hoài Nghi Gắn Với Quá Khứ, Tương Lai Và Hiện Tại 58

Phân Biệt Quan Hệ Nhân Quả Theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)  59

Trí Phân Biệt Các Nhân Của Danh–Sắc (Nāma–Rūpa). 65

Đạo Và Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh (Maggāmagga–ñāṇadassana–visuddhi)  66

Thọ Trì Thiền Vipassanā. 66

Thọ Trì Thiền Vipassanā Theo Bốn Mươi Cách. 70

Thiền Vipassanā Trên Các Nhân Và Các Quả Theo Pháp Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)  70

Thiền Vipassanā Theo Bảy Phép Quán Sắc và Bảy Phép Quán Vô Sắc  71

Tu Tập Trí Sanh Diệt (Udayabbaya–ñāṇa). 72

Sự Xuất Hiện Các Ô Nhiễm Của Thiền Vipassanā. 72

Trí Về Đạo và Phi Đạo. 73

Đạo Hành Tri Kiến Thanh Tịnh (Paṭipadā–ñāṇadassana–visuddhi)  74

Thọ Trì Bốn Niệm Xứ (Anupassanā). 74

Thiền Vipassanā Bằng Cách Phân Biệt Tỉnh Giác Bốn Oai Nghi (Iriyāpatha–sampajañña)  76

Tiến Đến Quán Sự Hoại Diệt (Bhaṅgānupassanā). 77

Thọ Trì Minh Sát Trí Đạt Tri (Ñāta–Ñāṇa Vipassanā). 78

Sự Sanh Khởi Trí Về Sự Xuất Hiện Kinh Hãi (Trí Kinh Úy) (Baya-ñāṇa)  80

Sự Sanh Khởi Trí Thấy Rõ Khuyết Điểm Và Sự Bất Toại Nguyện (Trí Hiểm Nguy) (Ādīnava-ñāṇa)  80

Sự Sanh Khởi Trí Cảm Thọ Nhàm Chán Và Ghê Tởm (Trí Yểm Ly) (Nibbidā-ñāṇa)  81

Sự Sanh Khởi Trí Khao Khát Giải Thoát (Trí Dục Thoát) (Muñcitukamyatā-ñāṇa)  81

Sự Sanh Khởi Trí Nỗ Lực Giải Thoát (Trí Quyết Ly) (Paṭisaṅkhā-ñāṇa)  82

Sự Sanh Khởi Trí Hành Xả (Saṅkhārupekkhāñāṇa). 83

Trí Thuận Thứ (Anulomañāṇa), Trí Chuyển Tộc, (Gotrabhuñāṇa), Trí Đạo (Maggañāṇa), Trí Quả (Phalañāṇa), Trí Phản Khán (Paccavekkhaṇañāṇa). 85

Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassana–visuddhi). 89

1. Sotāpattimagga Nhập Lưu Đạo. 89

2. Sakadāgami–magga Nhất Lai Đạo. 90

3. Anāgāmi–magga Bất Lai Đạo. 90

4. A-la-hánta–magga A-la-hán Đạo. 90

Kết Luận. 91

Tham khảo. 92

MỤC LỤC.. a


[1] A. 1. 456

[2] A. 2. 463

[3] Vs. 1. 263

[4] Vs. 1.94; D.Ti. 2.296 ff

[5] Abh. A.2.242–243; Vs. 1.115ff

[6] M. 1.73 ff

[7] M. 1.72–73

[8] M. 1.72–73

[9] Abh.A. 2.242–243

[10] Dh. 35,36

[11] S. 2.12; S. 3.363

[12] M. 1.89

[13] Vs. 2.222

[14] Vs. 1.283; Vs.Ti. 1.342

[15] S. 3.279; Vbh. 1.88

[16] Vs. 1.271

[17] Vs. 1.278 ff

[18] Vs. 1.125–126; Vs.Ti. 1.150–4

[19] Vs. 1.94; D.Ti. 2.296ff

[20] Vs. 1.287–307

[21] Vs. 1.289

[22] Vs.Ti. 1.364

[23] Vs. 1.289–300

[24] Ps. 314

[25] Vs. 1.191ff

[26] Vs. 1.173–190

[27] Vs. 1.178ff

[28] Vs. 1.183–184; Vs.Ti. 1.210

[29] Vs. 1.222–223

[30] Vs. 1.115ff

[31] Vs. 2.222

[32] Vs. 1.320–334

[33] Vs. 2.2–4

[34] Vs. 2.222

[35] Vs. 2.276

[36] Abh.A. 2.47

[37] Vs. 2.233

[38] Vs. 2.221

[39] Abh.A 2.189

[40] Ps. 51–52

[41] S. 2.258

[42] Vs. 2.242–243, 265–267

[43] Ps. 55ff

[44] M. 1.199–205

[45] Vs. 2.73, 2.222–(315)

[46] M. 1.281–286

[47] SA. 2.295

[48] Abh.A 1.114; MA. 3.60

[49] Vs. 2.252–253; MA. 1.266–267

[50] Abh.A. 1.114

[51] Abh.A. 2.47

[52] Vs. 2.276

[53] Abh.A. 2.46

[54] Abh.A. 2.47

[55] Vs. 2.276

[56] S. 1.302–303

[57] M. 1.10

[58] Vs. 2.234

[59] D. 2.47

[60] Vs. 2.221

[61] Abh.A. 2.189

[62] Vs. 2.214; Ps. 50

[63] Vs. 2.214; Ps. 50

[64] S. 1.243

[65] M. 1.78

[66] DA. 2.53

[67] SA. 2.44–45

[68] Vs. 2.300–301; Abh.A 1.270–271

[69] Ps. 55ff; Vs. 2.242ff

[70] Vs. 2.246–248

[71] Vs. 2.253–264

[72] Vs. 2.264

[73] Vs. 2.264

[74] M. 1.71ff

[75] Vs. 2.267ff

[76] MA. 281ff

[77] Vs. 2.269–274

[78] Vs. 2.277

[79] Vs. 2.278

[80] Vs.Ti. 2.441

[81] Vs. 2.282–284

[82] Vs. 2.284

[83] Vs. 2.287–288

[84] Vs. 2.288–289

[85] Vs. 2.289–291

[86] Vs. 2.294

[87] Vs. 2.294–295

[88] Vs. 2.315

[89] Vs. 2.315–316

[90] Vs. 2.318

Posted in Tổng Hợp | Tagged , , , , | Để lại bình luận

PAṬICCA SAMUPPĀDA – DUYÊN SANH (12 NHÂN DUYÊN)

PATICCA (2nd Stage) Vi 18-12-2013

PATICCA (2nd Stage) En-Vi 18-12-2013

 

Theravāda – Rừng Thiền Pa-Auk

PAṬICCA SAMUPPĀDA

DUYÊN SANH (12 NHÂN DUYÊN)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

PAṬICCA SAMUPPĀDA (2nd Stage)

PAṬICCA SAMUPPĀDA (Giai đoạn thứ 2)

Paṭicca Samuppāda Vibhaṅga Pāḷi – Suttanta Bhājanīya Method

Paṭicca Samuppāda Vibhaṅga Pāḷi – Phương Pháp Suttanta Bhājanīya

To be memorised in Pāḷi:

Cần thuộc lòng Kinh Pāḷi:

Avijjāpaccayā Saṅkhārā

Avijjāpaccayā Saṅkhārā

Saṅkhārapaccayā Viññāṅaṁ

Saṅkhārapaccayā Viññāṇaṁ

Viññāṅapaccayā NāmaRūpaṁ

Viññāṇapaccayā NāmaRūpaṁ

NāmaRūpapaccayā Saḷāyatanaṁ

NāmaRūpapaccayā Saḷāyatanaṁ

Saḷāyatanapaccayā Phasso

Saḷāyatanapaccayā Phasso

Phassapaccayā Vedanā

Phassapaccayā Vedanā

Vedanāpaccayā Taṇhā

Vedanāpaccayā Taṇhā

Taṇhāpaccayā Upādānaṁ

Taṇhāpaccayā Upādānaṁ

Upādānapaccayā Bhavo

Upādānapaccayā Bhavo

Bhavapaccayā Jāti

Bhavapaccayā Jāti

Jātipaccayā JarāMaraṇa-Soka Parideva-Dukkha-Domanassupāyāsā sambhavanti.

Jātipaccayā JarāMaraṇa-Soka Parideva-Dukkha-Domanassupāyāsā sambhavanti.

Evametassa kevalassa Dukkhakkhandhassa samudayo hoti.

Evametassa kevalassa Dukkhakkhandhassa samudayo hoti.

1) Avijjāpaccayā = Because of the existence of the Cause, i.e. Avijjā (=not knowing the Four Noble Truth; wrong knowing), Saṅkhārā = Deeds done & accumulated (=Kusala Saṅkhāra, Akusala Saṅkhāra) for the Present and Future – Saṁsāra states of existence, Sambhavanti = come to arise.

1) Avijjāpaccayā = Bởi sự có mặt của Nhân tức là Āvijjā (vô minh) (=không biết Bốn Thánh Đế; biết sai), Saṅkhāra (hành) = hành động đã làm & đã tích tập (=Kusala Saṅkhāra (thiện hành), Akusala Saṅkkhāra (bất thiện hành)) cho Hiện tại và Tương lai – Saṁsāra, các pháp hữu, Sambhavanti = đạt đến sự sanh khởi.

2) Saṅkhārapaccayā = Because of the existence of the Cause, i.e. deeds done & accumulated (=Kusala Saṅkhāra, Akusala Saṅkhāra) for the Present and Future – Saṁsāra states of existence, Viññāṇaṁ = Kamma Viññāṇa or (in another way) Vipāka Viññāṇa, Sambhavanti = comes to arise.

2) Saṅkhārapaccayā = Bởi sự có mặt của Nhân, tức là hành động đã làm & đã tích tập (= Kusala Saṅkhāra, Akusala Saṅkhāra) cho Hiện tại và Tương lai – Saṁsāra các pháp hữu, Viññāṇaṁ = Kamma Viññāṇa hay (theo cách khác) Vipāka Viññāṇa, Sambhavanti = đạt đến sự sanh khởi.

3) Viññāṇapaccayā NāmaRūpaṁ (sambhavanti) = (i)Because of the existence of the Cause-Kamma Viññāṇa, Vipāka Nāma Kammaja Rūpa come to arise.

3) Viññāṇapaccayā NāmaRūpaṁ (sambhavanti) = (i) Bởi sự hiện hữu của Nhân – Kamma Viññāṇa, Vipāka Nāma Kammaja Rūpa đạt đến sanh khởi.

   (In another way) = (ii) Because of the existence of the Vipāka Viññāṇa Cause, Vipāka Cetasika Nāma Cittaja Rūpa come to arise.

(Theo các khác) = (ii) Bởi sự hiện hữu của Nhân Vipāka Viññāṇa, Vipāka Cetasika Nāma, Cittaja Rūpa đạt đến sanh khởi.

4) NāmāRūpapaccayā Saḷāyatanaṁ (sambhavanti) = Because of the existence of the NamāRūpa Cause, the (6) internal Āyatana come to arise.

4) NāmāRūpapaccayā Saḷāyatanaṁ (sambhavanti) = Bởi sự hiện hữu của Nhân NāmaRūpa, (6) Āyatana bên trong (Nội Xứ) đạt đến sanh khởi.

5) Saḷāyatanapaccayā Phasso (sambhavanti) = Because of the existence of the (6) internal Āyatana Cause, (6) Phassa come to arise.

5) Saḷāyatanapaccayā Phassa (Sambhavanti) = Bởi sự hiện hữu của Nhân là (6) Āyatana bên trong (Nội Xứ), (6) Phassa đạt đến sanh khởi.

6) Phassapaccayā Vedanā (sambhavanti) = Because of the existence of the (6) Phassa Cause, (6) Vedanā come to arise.

6) Phassapaccayā Vedanā (sambhavanti) – Bởi sự hiện hữu của Nhân là (6) Phassa, (6) Vedanā đạt đến sanh khởi.

7) Vedanā paccayā Taṇhā (sambhavanti) = Because of the existence of the (6) Vedanā Cause, (6) Taṇhā come to arise.

7) Vedanā paccayā Taṇhā (sambhavanti) = Bởi sự hiện hữu của Nhân là (6) Vedanā, (6) Taṇhā đạt đến sanh khởi.

8) Taṇhāpaccayā Upādānaṁ (sambhavanti) = Because of the existence of the (6) Taṇhā, 4 types of clinging Upādāna come to arise.

8) Taṇhāpaccayā Upādānaṁ (sambhavanti) = Bởi sự hiện hữu của (6) Taṇhā, 4 loại chấp thủ Upādāna đạt đến sanh khởi.

9) Upādānapaccayā Bhavo = Because of the existence of these clinging Upādāna, Kamma Bhava-Upapatti Bhava come to arise.

9) Upādānapaccayā Bhavo = Bởi sự hiện hữu của những chấp thủ Upādāna này, Kamma Bhava-Upapatti Bhava đạt đến sanh khởi.

10) Bhavapaccayā Jāti = Because of the existence of Kamma Bhava, the Jāti state which is the establishing of Paṭisandhi comes to arise.

10) Bhavapaccayā  Jāti = Bởi sự hiện hữu của Kamma Bhava, pháp Jāti, là sự thiết lập Paṭisandhi, đạt đến sanh khởi.

11) Jātipaccayā JarāMaraṇa Soka Parideva Dukkha Domanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa Dukkhakkhandhassa samudayo hoti = Because of the establishing of Paṭisandhi, i.e because of the existence of Jāti, ageing-death-sorrow-wailing-pain-mental suffering-despair come to arise.  In this way it is the arising of the aggregate of Dukkha Khandha (entirely without happiness).

11) Jātipaccayā JarāMaraṇa Soka Parideva Dukkha Domanassupāyāsā sambhavanti Evametassa kevalassa Dukkhakkhandhassa samudayo hoti = Bởi sự thiết lập của Paṭisandhi, tức là bởi sự hiện hữu của Jāti, già-chết-sầu-bi-khổ-ưu-ai đạt đến sanh khởi. Đây là con đường đưa đến sự sanh khởi của Dukkha Khandha (Khổ Uẩn) (hoàn toàn không có an lạc).

1) Tattha katamā avijjā?  Dukkheaññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ. Ayam vuccati avijjā – In that Pāḷi Text (above) such as ‘Avijjāpaccaya saṅkhāra….’ etc, what is the ‘Avijjā’?  These 4 types are called Avijjā:

1) Tattha katamā avijjā?  Dukkheaññāṇaṁ, dukkhasamudaye aññāṇaṁ, dukkhanirodhe aññāṇaṁ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇaṁ. Ayam vuccati avijjā–Trong đoạn Pāḷi trên như là ‘Avijjāpaccaya saṅkhāra…’v.v., thế nào là ‘Āvijjā’? Bốn loại sau đây được gọi là Avijjā:

I) Not knowing the Noble Truth of Suffering,

i) Không biết Sự Thật Cao Thượng (Thánh Đế) về Sự Khổ,

II) Not knowing the Noble Truth of the Cause of Suffering,

ii) Không biết Sự Thật Cao Thượng về Nhân Của Sự Khổ,

III) Not knowing the Noble Truth of Cessation of Suffering,

iii) Không biết Sự Thật Cao Thượng về Sự Diệt của Khổ,

IV) Not knowing the Noble Truth of the Practice Leading to the Attainment of Nibbāna where Suffering Ceases.

iv) Không biết Sự Thật Cao Thượng về Sự Tu Tập Đưa Đến Chứng Đạt Nibbāna là nơi Khổ Diệt.

[The following is an example of the word by word translation:

[Sau đây là phần ví dụ về dịch thuật từng chữ:

 Tattha = In that Pāḷi Text (above) such as ‘Avijjāpaccayā saṅkhāra…..etc’,  Avijjā = the Avijjā, katamā = what is

Tattha = trong đoạn Pāḷi đó (ở trên) như là ‘Avijjāpaccayā Saṅkhāra…’, Avijjā = chính Avijjā, katamā = cái gì là

I) Dukkhe = on the Noble Truth of Suffering, aññāṇaṁ = not knowing

i) Dukkhe = đối với Thánh Đế về Khổ, aññāṇaṁ = không biết

II) dukkhasamudaye = on the Noble Truth of the Cause of Suffering, aññāṇaṁ = not knowing

ii) dukkhasamudaye = đối với Thánh Đế  về Nhân của Khổ, aññāṇaṁ = không biết

III)  dukkhanirodhe = on the Noble Truth of Cessation of Suffering, aññāṇaṁ = not knowing

iii) dukkhanirodhe = đối với Thánh Đế về Sự Diệt của Khổ, aññāṇaṁ = không biết

IV)  dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya = on the Noble Truth of the Practice Leading to the Attainment of Nibbāna where Suffering Ceases,  aññāṇaṁ = not knowing.

iv) dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya = đối với Thánh Đế về Sự Tu Tập Đưa Đến Sự Chứng Đạt Nibbāna là nơi Khổ Diệt, aññāṇaṁ = không biết.

Ayaṁ = these 4 types of not knowing,  Avijjā = as ‘Avijjā’   vuccati = is called.]

Ayaṁ = bốn loại không biết này, Avijjā = chính là ‘Avijjā’, vuccati = được gọi là.]

2) Tattha katame avijjāpaccayā saṅkhārā? Puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro, kāyasaṅkhāro vacīsaṅkhāro cittasaṅkhāro. Tattha katame puññābhisaṅkhāro?  Kusalā cetanā kāmāvacarā rūpāvacarā dānamayā sīlamayā bhāvanāmayā.  Ayaṁ vuccati puññābhisaṅkhāro.

2) Tattha katame avijjāpaccayā saṅkhārā? Puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro, kāyasaṅkhāro vacīsaṅkhāro cittasaṅkhāro. Tattha katame puññābhisaṅkhāro?  Kusalā cetanā kāmāvacarā rūpāvacarā dānamayā sīlamayā bhāvanāmayā.  Ayaṁ vuccati puññābhisaṅkhāro.

Tattha katamo apuññābhisaṅkhāro?  Akusalā cetanā kāmāvacarā.  Ayaṁ vuccati apuññābhisaṅkhāro.

Tattha katamo apuññābhisaṅkhāro?  Akusalā cetanā kāmāvacarā.  Ayaṁ vuccati apuññābhisaṅkhāro.

Tattha katamo āneñjābhisaṅkhāro?  Kusalā cetanā arūpāvacarā.  Ayaṁ vuccati āneñjābhisaṅkhāro.

Tattha katamo āneñjābhisaṅkhāro?  Kusalā cetanā arūpāvacarā.  Ayaṁ vuccati āneñjābhisaṅkhāro.

Tattha katamo kāyasaṅkhāro?  Kāyasañcetanā kāyasaṅkhāro; vacīsañcetanā vacīsaṅkhāro; manosañcetanā cittasaṅkhāro.  Ime vuccanti avijjāpaccayā saṅkhārā

Tattha katamo kāyasaṅkhāro?  Kāyasañcetanā kāyasaṅkhāro; vacīsañcetanā vacīsaṅkhāro; manosañcetanā cittasaṅkhāro.  Ime vuccanti avijjāpaccayā saṅkhārā

In that Pāli Text what is the Saṅkhāra which is produced by Avijjā?  It is:

Trong đoạn Pāḷi đó, cái gì là Saṅkhāra được tạo nên bởi Avijjā? Đó là:

i)  Puññābhisaṅkhāra,

i) Puññābhisaṅkhāra,

ii) apuññābhisaṅkhāra,

ii) apuññābhisaṅkhāra,

iii) āneñjābhisaṅkhāra,

iii) āneñjābhisaṅkhāra,

iv) kāyasaṅkhāra,

iv) kāyasaṅkhāra,

v) vacīsaṅkhāra,

v) vacīsaṅkhāra,

vi) cittasaṅkhāra.

vi) cittasaṅkhāra.

i) Among these Saṅkhāra, what is  Puññābhisaṅkhāra?  There exist Kusala Cetanā=Mahā Kusala Cetanā which is part of Kāmāvacara Sensual Realm, done with Dāna, Sīla, Bhāvanā (=Parikamma Bhāvanā, Upacāra Bhāvanā, Vipassanā Bhāvanā.  In this case, Vipassanā Bhāvanā does not mean all Vipassanā Kamma but only the Vipassanā Bhāvanā which can produce another life Bhava); and also Kusala Cetanā=Rūpāvacara Kusala Cetanā which is part of Rūpāvacara Realm (in other words, that which mostly ‘rotates’ or arises in Rūpāvacara Realm) done with Samatha Bhāvanā or in other words done with Appanā Bhāvanā.  These Kāmāvacara Kusala and Rūpāvacara Kusala are called Puññābhisaṅkhāra.

i) Trong những Saṅkhāra này, thế nào là Puññābhisaṅkhāra? Sự hiện hữu Kusala Cetanā = Mahā Kusala Cetanā là một phần của Cõi Dục Kāmāvacara , được tạo nên bởi Dāna, Sīla, Bhāvanā (=Parikamma Bhāvanā, Upacāra Bhāvanā, Vipassanā Bhāvanā. Trong trường hợp này, Vipassanā Bhāvanā không có nghĩa là tất cả Vipassanā Kamma nhưng chỉ Vipassanā Bhāvanā mà có thể tạo nên kiếp sống Bhava khác); và cũng vậy Kusala Cetanā = Rūpāvacara Kusala Cetanā là phần Cõi Sắc Rūpāvacara (hay nói cách khác, cái chủ yếu ‘luân chuyển’ hay khởi lên trong Cõi Sắc Rūpāvacara) được thực hiện bằng Samatha Bhāvanā (Tu tập Định) hay nói cách khác là được thực hiện bằng Appanā Bhāvanā. Những Kāmāvacara Kusala và Rūpāvacara Kusala này được gọi là Puññābhisaṅkhāra.

(8 Mahā Kusala+5 Rūpāvacara=13 total).

(8 Mahā Kusala+5 Rūpāvacara = tổng cộng là 13).

ii)  Among these Saṅkhāra, what is Apuññābhisaṅkhāra?  There exist Akusala Cetanā which is part of Kāmāvacara Realm.  This Akusala Cetanā is Apuññābhisaṅkhāra.

ii) Trong những Saṅkhāra này, thế nào là Apuññābhisaṅkhāra? Có sự hiện hữu Akusala Cetanā là phần của Cõi Dục Kāmāvacara. Akusala Cetanā này là Apuññābhisaṅkhāra.

iii) Among these Saṅkhāra, what is Āneñjābhisaṅkhāra?  There exist Arūpa Kusala Cetanā which is part of Arūpāvacara Realm.  This Arūpa Kusala Cetanā is Āneñjābhisaṅkhāra

iii) Trong những Saṅkhāra này, thế nào là Āneñjābhisaṅkhāra? Có sự hiện hữu của Arūpa Kusala Cetanā là phần của Cõi Vô Sắc Arūpāvacara. Arūpa Kusala Cetanā này là Āneñjābhisaṅkhāra.

iv) Among these Saṅkhāra, what is Kāya Saṅkhāra?  Kāyasañcetanā=the 8 types of KāmaKusala Cetanā and 12 types of Akusala Cetanā which arise in Kāyadvāra are Kāya Saṅkhāra.

iv) Trong những Saṅkhāra này, cái gì là Kāya Saṅkhāra? Kāyasañcetana = 8 loại của KāmaKusala Cetanā và 12 loại của Akusala Cetanā sanh lên ở Kāyadvāra là Kāya Saṅkhāra.

v) Vacīsañcetanā=the 8 types of KāmaKusala Cetanā and 12 types of Akusala Cetanā which arise in Vacīdvāra are Vacī Saṅkhāra.

v) Vacīsañcetanā = 8 loại của KāmaKusala Cetanā và 12 loại của Akusala Cetanā sanh lên ở Vacīdvāra là Vacī Saṅkhāra.

vi) Manosañcetanā=excluding the 2 types of Viññatti Rūpa (i.e. Kāya Viññatti and Vacī Viññatti) all the 30-1=29 Cetanā (which are 12 types of Akusala Cetanā, 8 types of MahāKusala Cetanā=KāmaKusala Cetanā, 5 types Rūpa Kusala Cetanā, 4 types of Arūpa Kusala Cetanā) are Citta Saṅkhāra.

vi) Manosañcetanā = ngoại trừ 2 loại Viññatti Rūpa (tức là Kāya Viññatti và Vacī Viññatti) tất cả 30 – 1 = 29 Cetanā (là 12 loại Akusala Cetanā, 8 loại Mahā Kusala Cetanā = Kāma Kusala Cetanā, 5 loại Rūpa Kusala Cetanā, 4 loại của Arūpa Cetanā) là Citta Saṅkhāra.

These Saṅkhāra are the Saṅkhāra produced by Avijjā.

Những Saṅkhāra này là Saṅkhāra tạo nên bởi Avijjā.

3) Tattha katamaṃ saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ? Cakkhuviññāṇaṃ sotaviññāṇaṃ ghānaviññāṇaṃ, jivhāviññāṇaṃ kāyaviññāṇaṃ manoviññāṇaṃ.  Idaṃ vuccati saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ.

3) Tattha katamaṁ saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ? Cakkhuviññāṇaṁ sotaviññāṇaṁ ghānaviññāṇaṁ, jivhāviññāṇaṁ kāyaviññāṇaṁ manoviññāṇaṁ.  Idaṁ vuccati saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ.

In that Pāḷi Text, what is theViññāṇa which is produced by Saṅkhāra?  These 6 types of Viññāṇa:

Trong đoạn Pāḷi trên, cái gì là Viññāṇa được tạo nên bởi Saṅkhāra? Có 6 loại Viññāṇa:

i) Cakkhuviññāṇa

i) Cakkhuviññāṇa

ii) Sotaviññāṇa

ii) Sotaviññāṇa

iii) Ghānaviññāṇa,

iii) Ghānaviññāṇa,

iv) Jivhāviññāṇa

iv) Jivhāviññāṇa

v) Kāyaviññāṇa

v) Kāyaviññāṇa

vi) Manoviññāṇa

vi) Manoviññāṇa

are the Viññāṇa which are produced by Saṅkhāra.

là Viññāṇa được tạo bởi Saṅkhāra.

4) Tattha katamaṁ viññāṇapaccayā nāmarūpam?  Atthi nāmaṁ, atthi rūpaṁ.  Tattha katamaṁ nāmaṁ?  Vedanākkhandho saññākkhandho saṅkhārakkhandho, idaṁ vuccati nāmaṁ.  Tattha katamaṁ rūpaṁ?  Cattāro mahābhūtā catunnañca mahabhūtānaṁ upādāya rūpaṁ, idaṁ vuccati rūpaṁ.  Iti idañca nāmaṁ idañca rūpaṁ, idaṁ vuccati viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ.

4) Tattha katamaṁ viññāṇapaccayā nāmarūpam? Atthi nāmaṁ, atthi rūpaṁ. Tattha katamaṁ nāmaṁ? Vedanākkhandho saññākkhandho saṅkhārakkhandho, idaṁ vuccati nāmaṁ. Tattha katamaṁ rūpaṁ? Cattāro mahābhūtā catunnañca mahabhūtānaṁ upādāya rūpaṁ, idaṁ vuccati rūpaṁ. Iti idañca nāmaṁ idañca rūpaṁ, idaṁ vuccati viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ.

In that Pāḷi Text, what is the NāmaRūpa which is produced by Viññāṇa?

Trong đoạn Pāḷi đó, cái gì là Nāma Rūpa được tạo nên bởi Viññāṇa?

     (A) There are Nāma,

(A) là Nāma,

     (B) there are Rūpa.

(B) là Rūpa.

(A) Among NāmaRūpa, what is Nāma?  The following 3 Khandhās:

(A) Trong NāmaRūpa, cái gì là Nāma? Ba Khandhā sau đây:

     (i) Vedanākkhandhā,

i) Vedanākkhanadhā,

     (ii) Saññākkhandhā and

ii) Saññākkhandhā và

     (iii) Saṅkhārakkhandhā

iii) Saṅkhārakkhandhā

are the Nāma.

là Nāma.

(B) Among NāmaRūpa, what is Rūpa?  The followings:

(B) Trong NāmaRūpa, cái gì là Rūpa? Như sau:

     (i) the 4 Great Primary and

i) Bốn Sắc Đại Hiển và

     (ii) the 24 types of Upādā Rūpa which arise having ‘grasped’ to the 4 Great Primary are the Rūpa.

ii) 24 loại Sắc nương sanh Upādā Rūpa, “níu” lấy 4 Sắc Đại Hiển, là Rūpa.

 Thus, these Nāma and these Rūpa are the NāmaRūpa produced by Viññāṇa.

Như vậy, các Nāma và Rūpa này là NāmaRūpa tạo nên bởi Viññāṇa.

5) Tattha katamaṁ nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ?  Cakkhāyatanaṁ sotāyatanaṁ ghānāyatanaṁ jivhāyatanaṁ kāyāyatanaṁ manāyatanaṁ.  Idaṁ vuccati nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ.

5) Tattha katamaṁ nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ? Cakkhāyatanaṁ sotāyatanaṁ ghānāyatanaṁ jivhāyatanaṁ kāyāyatanaṁ manāyatanaṁ. Idaṁ vuccati nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ.

In that Pāḷi Text, what is the Saḷāyatana which is produced by NāmaRūpa?  The following 6 Āyatana:

Trong đoạn Pāḷi đó, cái gì là Saḷāyata được tạo nên bởi NāmaRūpa? Sáu loại Ayatana sau đây:

     (i) Cakkhāyatana

(i) Cakkhāyatana

     (ii) Sotāyatana

 (ii) Sotāyatana

     (iii) Ghānāyatana

 (iii) Ghānāyatana

     (iv) Jivhāyatana

 (iv) Jivhāyatana

     (v) Kāyāyatana

 (v) Kāyāyatana

     (vi) Manāyatana

 (vi) Manāyatana

are the Saḷāyatana produced by NāmaRūpa.

Chính là Saḷāyatana tạo nên bởi NāmaRūpa.

6) Tattha katamo saḷāyatanapaccayā phasso?  Cakkhusamphasso sotasamphasso ghānasamphasso jivhāsamphasso kāyasamphasso manosamphasso.  Ayaṁ vuccati saḷāyatanapaccayā phasso.

6) Tattha katamo saḷāyatanapaccayā phasso? Cakkhusamphasso sotasamphasso ghānasamphasso jivhāsamphasso kāyasamphasso manosamphasso. Ayaṁ vuccati saḷāyatanapaccayā phasso.

In that Pali Text, what is the Phassa which is produced by Saḷāyatana?  The following 6 Phassa:

Trong đoạn Pāḷi đó, cái gì là Phassa sanh lên bởi Saḷāyata? Sáu loại Phassa sau đây:

     (i) Cakkhusamphassa

(i) Cakkhusamphassa

     (ii) Sotasamphassa

 (ii) Sotasamphassa

     (iii) Ghānasamphassa

 (iii) Ghānasamphassa

     (iv) Jivhāsamphassa

 (iv) Jivhāsamphassa

     (v) Kāyasamphassa

 (v) Kāyasamphassa

     (vi) Manosamphassa

 (vi) Manosamphassa

are the Phassa which is produced by Saḷāyatana.

là Phassa được tạo nên bởi Saḷāyatana.

7) Tattha katamā phassapaccayā vedanā?  Cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā.  Ayaṁ vuccati phassapaccayā vedanā.

7) Tattha katamā phassapaccayā vedanā? Cakkhusamphassajā vedanā, sotasamphassajā vedanā, ghānasamphassajā vedanā, jivhāsamphassajā vedanā, kāyasamphassajā vedanā, manosamphassajā vedanā. Ayaṁ vuccati phassapaccayā vedanā.

In that Pāḷi Text, what is the Vedanā which is produced by Phassa?  The following 6 types of Vedanā:

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Vedanā tạo được nên bởi Phassa? Sáu loại Vedanā sau đây:

(i) Cakkhusamphassajā vedanā = Vedanā produced by Cakkhusamphassa

(i) Cakkhusamphassajā vedanā = Vedanā tạo nên bởi Cakkhusamphassa

(ii) Sotasamphassajā vedanā = Vedanā produced by Sotasamphassa

(ii) Sotasamphassajā vedanā = Vedanā tạo nên bởi Sotasamphassa

(iii) Ghānasamphassajā vedanā = Vedanā produced by Ghānasamphassa

(iii) Ghānasamphassajā vedanā = Vedanā tạo nên bởi Ghānasamphassa

(iv) Jivhāsamphassajā vedanā = Vedanā produced by Jivhāsamphassa

(iv) Jivhāsamphassajā vedanā = Vedanā tạo nên bởi Jivhāsamphassa

(v) Kāyasamphassajā vedanā = Vedanā produced by Kāyasamphassa

(v) Kāyasamphassajā vedanā = Vedanā tạo nên bởi Kāyasamphassa

(vi) Manosamphassajā vedanā = Vedanā produced by Manosamphassa

(vi) Manosamphassajā vedanā = Vedanā tạo nên bởi Manosamphassa

are the Vedanā produced by Phassa.

là Vedanā được tạo nên bởi Phassa.

8) Tattha katamā vedanāpaccayā taṇhā?  Rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā.  Ayaṁ vuccati vedanāpaccayā taṇhā.

8) Tattha katamā vedanāpaccayā taṇhā? Rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā. Ayaṁ vuccati vedanāpaccayā taṇhā.

In that Pāḷi Text, what is the Taṇhā which is produced by Vedanā?  The following 6 Taṇhā:

Trong đoạn Pāḷi đó, cái gì là Taṇhā được tạo nên bởi Vedanā? Sáu loại Taṇhā sau đây:

(i) Rūpataṇhā = attachment to Rūpārammaṇa

(i) Rūpataṇhā = tham ái đối với Rūpārammaṇa

(ii) Saddataṇhā = attachment to Saddārammaṇa

(ii) Saddataṇhā = tham ái đối với Saddārammaṇa

(iii) Gandhataṇhā = attachment to Gandhārammaṇa

(iii) Gandhataṇhā = tham ái đối với Gandhārammaṇa

(iv) Rasataṇhā = attachment to Rasārammaṇa

(iv) Rasataṇhā = tham ái đối với Rasārammaṇa

(v) Phoṭṭhabbataṇhā = attachment to Phoṭṭhabbārammaṇa

(v) Phoṭṭhabbataṇhā = tham ái đối với Phoṭṭhabbārammaṇa

(vi) Dhammataṇhā = attachment to Dhammārammaṇa

(vi) Dhammataṇhā = tham ái đối với Dhammārammaṇa

are the Taṇhā produced by Vedanā.

Taṇhā được tạo nên bởi Vedanā.

(9) Tattha katamaṁ taṇhāpaccayā upādānaṁ?  Kāmupādānaṁ diṭṭhupādānaṁ sīlabbatupādānaṁ attavādupādānam.  Idaṁ vuccati taṇhāpaccayā upādānaṁ.

(9) Tattha katamaṁ taṇhāpaccayā upādānaṁ? Kāmupādānaṁ diṭṭhupādānaṁ sīlabbatupādānaṁ attavādupādānam. Idaṁ vuccati taṇhāpaccayā upādānaṁ.

In that Pāḷi Text, what is the Upādāna produced by Taṇhā?  The following 4 Upādāna:

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Upādāna được tạo nên bởi Taṇhā? Bốn loại Upādāna sau đây:

(i) Kāmupādāna = clinging to sensual pleasures

(i) Kāmupādāna = chấp thủ đối với dục lạc,

(ii) Diṭṭhupādāna = clinging to wrong views, Miccha diṭṭhi

(ii) Diṭṭhupādāna = chấp thủ vào tà kiến, Miccha diṭṭhi

(iii) Sīlabbatupādāna = clinging to wrong practice such as Ox Practice, Dog Practice …etc

(iii) Sīlabbatupādāna = chấp thủ vào sự tu tập sai lầm như Tu tập như Bò, Tu tập như Chó,… v.v.

(iv) Attavādupādāna = clinging to the belief in Atta

(iv) Attavādupādāna = chấp thủ vào niềm tin nơi Ngã Atta

are the Upādāna produced by Taṇhā.

là Upādāna tạo nên bởi Taṇhā.

10) Tattha katamo upādānapaccayā bhavo?  Bhavo duvidhena atthi kammabhavo atthi upapattibhavo.  Tattha katamo kammabhavo?  Puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro.  Ayaṁ vuccati kammabhavo.  Sabbampi bhavagāmikammaṁ kammabhavo.

10) Tattha katamo upādānapaccayā bhavo?  Bhavo duvidhena atthi kammabhavo atthi upapattibhavo.  Tattha katamo kammabhavo?  Puññābhisaṅkhāro apuññābhisaṅkhāro āneñjābhisaṅkhāro.  Ayaṁ vuccati kammabhavo.  Sabbampi bhavagāmikammaṁ kammabhavo.

Tattha katamo upapattibhavo?  Kāmabhavo rūpabhavo arūpabhavo saññābhavo asaññābhavo nevasaññānāsaññābhavo ekavokārabhavo catuvokārabhavo pañcavokārabhavo.  Ayaṁ vuccati upapattibhavo.  Ayaṁ vuccati upādānapaccayā bhavo.

Tattha katamo upapattibhavo?  Kāmabhavo rūpabhavo arūpabhavo saññābhavo asaññābhavo nevasaññānāsaññābhavo ekavokārabhavo catuvokārabhavo pañcavokārabhavo.  Ayaṁ vuccati upapattibhavo.  Ayaṁ vuccati upādānapaccayā bhavo.

In that Pāḷi Text what is the Bhava which is produced by Upādāna?  There are 2 types of Bhava, namely (A) Kamma Bhava and (B) Upapatti Bhava.

 Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Bhava tạo nên bởi Upādāna? Có 2 loại Bhava được gọi là (A) Kamma Bhava và (B) Upapatti Bhava.

(A) Among these 2 types, what is Kamma Bhava?  The following 3 types of Saṅkhāra:

(A) Trong 2 loại này, thế nào là Kamma Bhava? Ba loại Saṅkhāra sau đây:

(i) Puññābhisaṅkhāro

(i) Puññābhisaṅkhāro

(ii) apuññābhisaṅkhāro

(ii) apuññābhisaṅkhāro

(iii)  āneñjābhisaṅkhāro

(iii) āneñjābhisaṅkhāro

are KammaBhava=the cause of arising.  All Kamma which can cause to reach a state of existence (Bhava) is KammaBhava.

là KammaBhava = nhân của sự sanh lên. Tất cả Kamma có thể làm cho đạt đến pháp hiện hữu (Bhava) là KammaBhava.

(B) Among these 2 types, what is Upapatti Bhava?  The following 9 types of existence:

(B) Trong 2 loại này, thế nào là Upapatti Bhava (Sanh Hữu)? Chín loại hữu sau đây:

(i) Kāma Bhava = Kāma state of existence in 11 Kāma Realm,

(i) Kāma Bhava = pháp hiện hữu Kāma trong 11 cõi Kāma,

(ii) Rūpa Bhava = Rūpa state of existence in 16 Rūpa Realm,

(ii) Rūpa Bhava = pháp hiện hữu Rūpa trong 16 cõi Rūpa,

(iii) Arūpa Bhava = Arūpa state of existence in 4 Arūpa Realm,

(iii) Arūpa Bhava = pháp hiện hữu Arūpa trong 4 cõi Arūpa,

(iv) Saññā Bhava = the state of existence with perception (11 in Kāma Realm, 15 in Rūpa Realm–i.e. excluding Asaññā, 3 in Arūpa realm excluding nevasaññānāsaññāyatana realm; a total of 29 Realms),

(iv) Saññā Bhava = pháp hiện hữu có tưởng (11 trong cõi Kāma, 15 trong cõi Rūpa –tức là ngoại trừ Asaññā (Vô tưởng), 3 trong cõi Arūpa ngoại trừ cõi nevasaññānāsaññāyatana; tất cả là 29 Cõi),

(v) Asaññā Bhava = Asaññā state of existence without perception,

(v) Asaññā Bhava = pháp hiện hữu không có tưởng Asaññā,

(vi) Nevasaññānāsaññā Bhava = Nevasaññānāsaññā state of existence,

(vi) Nevasaññānāsaññā Bhava = pháp hiện hữu Nevasaññānāsaññā,

(vii) Ekavokāra Bhava = Ekavokāra state of existence which has only one Ru/pakkhandha (Asaññā Realm),

(vii) Ekavokāra Bhava = pháp hiện hữu Ekavokāra chỉ có một Rūpakkhandha (Cõi Asaññā),

(viii) Catuvokāra Bhava = Catuvokāra state of existence which has only 4 Nāma Khandha (i.e. the 4 Arūpa Realm),

(viii) Catuvokāra Bhava = pháp hiện hữu Catuvokāra chỉ có 4 Nāma Khandha (tức là 4 cõi Arūpa),

(ix) Pañcavokāra Bhava = Pañcavokāra state of existence which has 5 Khandha (11 in Kāma realm and 15 in Rūpa realm excluding Asañña; a total of 26 Realms)

(ix) Pañcavokāra Bhava = pháp hiện hữu Pañcavokāra có 5 Khandha (11 cõi Kāma và 15 cõi Rūpa ngoại trừ Asañña; tất cả có 26 Cõi)

are the Upapatti Bhava.  These Kamma Bhava and Upapatti Bhava are the Bhava produced by Upādāna.

là Upapatti Bhava. Những Kamma Bhava và Upapatti Bhava này là Bhava tạo nên bởi Upādāna.

11) Tattha katamā bhavapaccayā jāti?  Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikaye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ patubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho.  Ayaṁ vuccati bhavapaccayā jāti.

11) Tattha katamā bhavapaccayā jāti? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikaye jāti sañjāti okkanti abhinibbatti khandhānaṁ patubhāvo āyatanānaṁ paṭilābho. Ayaṁ vuccati bhavapaccayā jāti.

In that Pāḷi Text, what is the Jāti produced by Bhava (=Kamma Bhava)?  There is the birth, arising, entering into mother’s womb, becoming a new being, appearing of the Khandhā, acquiring of the Āyatana of various living beings in various groups of living beings.  These are the Jāti produced by Bhava.

Trong đoạn Pāli đó, thế nào là Jāti được tạo nên bởi Bhava (=Kamma Bhava)? Có sự sinh ra, khởi lên, đi vào bụng mẹ, trở thành chúng sanh mới, xuất hiện các Khandhā, đạt được Āyatana của các chúng sanh trong nhiều nhóm sanh chủng. Chúng là Jāti được tạo nên bởi Bhava.

12) Tattha katamaṁ jātipaccayā jarāmaranaṁ?  Atthi jarā atthi maranaṁ.  Tattha katamā jarā? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇ ḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko.  Ayaṁ vuccati jarā.

12) Tattha katamaṁ jātipaccayā jarāmaranaṁ? Atthi jarā atthi maranaṁ. Tattha katamā jarā? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇ ḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko. Ayaṁ vuccati jarā.

In that Pāḷi Text, what is the JarāMaraṇa produced by Jāti?  There are Jarā and Maraṇa; among these two what is Jarā?  There is the old age, decaying, having broken teeth, greying of hair, wrinkling of skin, deteriorating of life, ripening of the sense faculties of various living beings in various groups of living beings.  These are Jarā.

Trong đoạn Pāli đó, thế nào là JarāMaraṇa được tạo nên bởi Jāti? Có Jarā và Maraṇa; trong hai loại này thế nào là Jarā? Có tuổi già, hủy hoại, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, mạng sống giảm, chín muồi của các căn ở các chúng sanh trong nhiều nhóm sanh chủng. Chúng là Jarā.

13) Tattha katamaṁ maraṇaṁ?  Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccumaraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo, kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo.  Idaṁ vuccati maraṇaṁ.  Iti ayañca jarā idañca maraṇaṁ.  Idaṁ vuccati jātipaccayā jarāmaraṇaṁ.

13) Tattha katamaṁ maraṇaṁ? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccumaraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo, kaḷevarassa nikkhepo jīvitindriyassupacchedo. Idaṁ vuccati maraṇaṁ. Iti ayañca jarā idañca maraṇaṁ. Idaṁ vuccati jātipaccayā jarāmaraṇaṁ.

Among that JarāMaraṇa, what is Maraṇa?  There is the Cuti(=’shifting’), Cavana, breaking up, passing away, dying in death, death, breaking up of the Khandhā, discarding the body, cutting off of the life faculty of various living beings from various groups of living beings.  These are Maraṇa.

Trong JarāMaraṇa đó, cái gì là Maraṇa? Có Cuti (= ‘chuyển dời’), Cavana, gãy lìa, biến diệt, hấp hối trong lúc chết, chết, các Uẩn Khandhā tan rã, từ bỏ thân, cắt đứt mạng căn của các chúng sanh từ nhiều nhóm sanh loại. Chúng là Maraṇa.

Thus these Jarā and Maraṇa exist.  These are the JarāMaraṇa produced by Jāti.

Như vậy Jarā và Maraṇa này tồn tại. Chúng là JarāMaraṇa được tạo nên bởi Jāti.

14) Tattha katamo soko?  Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa

14) Tattha katamo soko?  Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa

aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṁ antosoko antoparisoko cetaso parijjhāyanā domanassaṁ sokasallaṁ.  Ayaṁ vuccati soko.

aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa soko socanā socitattaṁ antosoko antoparisoko cetaso parijjhāyanā domanassaṁ sokasallaṁ.  Ayaṁ vuccati soko.

In that Pāḷi Text, what is Soko?  To those who are facing with loss of relatives, loss of properties, sicknesses, breach in virtues, with wrong views, facing with any tragedy, facing with any suffering there exist sorrow, being sorrowful, sorrowfulness, inner sorrow, wholly inner sorrow, burning of mind entirely, not happy, being pierced by the thorn of sorrow.  These are Soka.

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Soko? Đối với ai đối diện với sự mất mát bà con, mất mát tài sản, đau bệnh, hư hỏng giới, với tà kiến, đối diện với bi kịch, đối diện với bất kỳ đau khổ, ở đó hiện hữu sầu, âu sầu, tính chất đau đớn, buồn bực trong lòng, não nuột trong lòng, nội tâm bị thiêu đốt, ưu tư, bị hành hạ bởi gai sầu. Chúng là Soka.

15) Tattha katamo paridevo?  Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa

15) Tattha katamo paridevo?  Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa

aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanāparidevanā ādevitattaṁ paridevitattaṁ vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappanā lālappitattaṁ.  Ayaṁ vuccati paridevo.

aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa phuṭṭhassa ādevo paridevo ādevanāparidevanā ādevitattaṁ paridevitattaṁ vācā palāpo vippalāpo lālappo lālappanā lālappitattaṁ.  Ayaṁ vuccati paridevo.

In that Pāḷi Text, what is Paridevo?  To those who are facing with loss of relatives, loss of properties, sicknesses, breach in virtues, with wrong views, facing with any tragedy, facing with any suffering there exist wailing, wailing again and again, the state of wailing, the state of wailing again and again, being in wailing, being in wailing again and again, utterance in wailing (such as, “Oh, my son; Oh, my daughter…), utterance in wailing again and again, utterance in wailing in various ways again and again, the state of uttering in wailing, state of uttering in wailing again and again.  These are Paridevo.

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Paridevo? Đối với những ai đối diện với sự mất mát thân quyến, mất mát tài sản, đau bệnh, hư hỏng giới, với tà kiến, đối diện với bi kịch, đối diện với bất kỳ bất hạnh nào thì ở đó có mặt bi, bi ai giằn xé, trạng thái bi ai, khóc than giằn xé, chìm ngập trong bi ai, chìm ngập trong bi ai giằn xé, than khóc trong bi ai (như là, “Ôi, con trai tôi; Ôi, con gái tôi…), than khóc trong ai oán giằn xé. Chúng là Paridevo.

16) Tattha katamaṁ dukkhaṁ?  Yaṁ kāyikaṁ asātaṁ, kāyikaṁ dukkhaṁ, kāyasamphassajam asātaṁ dukkhaṁ vedayitaṁ kāyasamphassajā asātā dukkhā vedanā.  Idaṁ vuccati dukkhaṁ.

16) Tattha katamaṁ dukkhaṁ? Yaṁ kāyikaṁ asātaṁ, kāyikaṁ dukkhaṁ, kāyasamphassajam asātaṁ dukkhaṁ vedayitaṁ kāyasamphassajā asātā dukkhā vedanā. Idaṁ vuccati dukkhaṁ.

In that Pāḷi Text, what is Dukkha?  There exist unpleasant bodily suffering in the body, the experience of unpleasant pain caused by Kāyasamphassa, unpleasant painful feeling caused by Kāyasamphassa.  These are Dukkha.

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Dukkha? Có mặt những cảm giác khó chịu gây khổ từ thân, nhận chịu cơn đau khó chịu tạo nên bởi Kāyasamphassa, cảm thọ đau khó chịu được tạo nên bởi Kāyasamphassa. Chúng là Dukkha.

17) Tattha katamaṁ domanassaṁ?  Yaṁ cetasikaṁ asātaṁ cetasikaṁ dukkhaṁ cetosamphassajaṁ asātaṁ dukkhaṁ vedayitaṁ cetosamphassajā asātā dukkhā vedanā.  Idaṁ vuccati domanassaṁ.

17) Tattha katamaṁ domanassaṁ? Yaṁ cetasikaṁ asātaṁ cetasikaṁ dukkhaṁ cetosamphassajaṁ asātaṁ dukkhaṁ vedayitaṁ cetosamphassajā asātā dukkhā vedanā. Idaṁ vuccati domanassaṁ.

In that Pāḷi Text, what is Domanassa?  There exist unpleasant mental suffering in the mind, the experience of unpleasant affliction caused by cetosamphassa(=Manosamphassa), unpleasant suffering feeling caused by cetosamphassa(=Manosamphassa).  These are Domanassa.

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Domanassa? Có mặt sự khó chịu của khổ tâm nơi tâm, cảm nhận với nỗi đau đớn khó chịu được tạo nên bởi cetosamphassa (= Manosamphassa), cảm thọ đau đớn khó chịu được tạo nên bởi cetosamphassa(= Manosamphassa). Chúng là Domanassa.

18) Tattha katamo upāyāso?  Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa

18) Tattha katamo upāyāso?  Ñātibyasanena vā phuṭṭhassa bhogabyasanena vā phuṭṭhassa rogabyasanena vā phuṭṭhassa sīlabyasanena vā phuṭṭhassa diṭṭhibyasanena vā phuṭṭhassa aññataraññatarena byasanena samannāgatassa

aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṁ upāyāsitattaṁ.  Ayaṁ vuccati upāyāso.

aññataraññatarena dukkhadhammena phuṭṭhassa āyāso upāyāso āyāsitattaṁ upāyāsitattaṁ.  Ayaṁ vuccati upāyāso.

In that Pāḷi Text, what is Upāyāsa?  To those who are facing with loss of relatives, loss of properties, sicknesses, breach in virtues, with wrong views, facing with any tragedy, facing with any suffering there exist mental despair, great mental despair, being in despair, being in great despair.  These are Upāyāsa.

Trong đoạn Pāḷi đó, thế nào là Upāyāsa? Đối với những ai đối diện với mất mát thân quyến, tài sản, đau ốm, hư hỏng giới, với tà kiến, đối diện với thảm kịch, đối diện với khổ đau nào mà có mặt tuyệt vọng của tâm, tinh thần vô cùng tuyệt vọng,  chìm đắm trong tuyệt vọng, chìm đắm trong vô cùng tuyệt vọng. Chúng là Upāyāsa.

19) Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotīti.  Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa saṅgati hoti.  Samāgamo hoti.  Samodhānaṁ hoti.  Patubhāvo hoti.  Tena vuccati Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotīti (Abhidhamma Bk.II-142-145)

19) Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotīti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa saṅgati hoti. Samāgamo hoti. Samodhānaṁ hoti. Patubhāvo hoti. Tena vuccati Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotīti (Abhidhamma Bk.II-142-145)

Suttanta Bhājanīyaṁ niṭṭhitaṁ.

Suttanta Bhājanīyaṁ niṭṭhitaṁ.

Thus it is the arising of the aggregate of suffering (entirely without happiness).  In other words, thus it is the Cause of the grouping, the gathering, the appearing of the mass of suffering (entirely without happiness).  Therefore it is mentioned as Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.

Như vậy đây là sự sanh lên của đống khổ đau (hoàn toàn không có hạnh phúc). Nói cách khác, như vậy, đó chính là Nhân của sự gộp lại, sự tụ hội, sự xuất hiện của đống khổ đau (hoàn toàn không có hạnh phúc). Chính vì vậy chúng được nói đến là Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.

The above are the Paṭicca Samuppāda Pāḷi and its translation which should be memorized in advance before meditating by the meditator who wants to meditate on the Paṭicca Samuppāda teachings systematically and to realize it well by Anubodha ñāṇa and Paṭivedha ñāṇa.  The meditator who has already memorized these Pāḷi together with its meaning should then practise the Paṭicca Samuppāda 1st Method.

Ở trên là phần Paṭicca Samuppāda Pāḷi và bản dịch cần phải thuộc lòng từ trước khi hành thiền nếu muốn thiền với phương pháp Paṭicca Samuppāda có hệ thống và thông thạo bằng Anubodha ñāṇa và Paṭivedha ñāṇa. Hành giả nào đã thuộc lòng đoạn Pāḷi cùng ý nghĩa của nó thì nên tu tập với Paṭicca Samuppāda phương pháp thứ nhất.

12 Factors Of Paṭicca Samuppāda

Mười hai chi của Paṭicca Samuppāda

In the Anuloma Paṭicca Samuppāda Teaching called Paṭicca Samuppāda 1st Method there are some facts about it which one should know: there are 12 Factors, 3 Periods, 3 Links, 4 Groups, 20 States.  The 12 Factors are:

Trong phương pháp Paṭicca Samuppāda Anuloma (xuôi dòng) được gọi là Paṭicca Samuppāda phương pháp thứ 1, có vài điều về phương pháp mà hành giả cần phải nắm: có 12 chi, 3 thời, 3 liên kết, 4 nhóm, 20 hành tướng. Mười hai chi như sau:

1) Avijjā

1) Avijjā

2) Saṅkhāra

2) Saṅkhāra

3) Viññāṇa

3) Viññāṇa

4) NāmāRūpa

4) NāmāRūpa

5) Saḷāyatana

5) Saḷāyatana

6) Phassa

6) Phassa

7) Vedanā

7) Vedanā

8) Taṇhā

8) Taṇhā

9) Upādāna

9) Upādāna

10) Bhava

10) Bhava

11) Jāti

11) Jāti

12) JarāMaraṇa

12) JarāMaraṇa

Three Periods

Ba thời

Putting the Present life in the centre (of the Paṭicca Samuppāda cycle), then:

Đặt Kiếp hiện tại vào giữa (vòng Paṭicca Samuppāda), như vậy:

1) Avijjā and Saṅkhāra are of the Past life Period,

1) Avijjā và Saṅkhāra thuộc Kiếp quá khứ,

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā, Taṇhā, Upādāna, Bhava (Kamma Bhava) are of the Present life Period,

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā, Taṇhā, Upādāna, Bhava (Kamma Bhava) thuộc Kiếp hiện tại,

3) Jāti, Jarā-Maraṇa are of the Future life Period.

3) Jāti, Jarā-Maraṇa thuộc Kiếp tương lai.

If put the 1st Past life in the centre (of the Paṭicca Samuppāda cycle), then:

Đặt Kiếp quá khứ thứ I vào giữa (vòng Paṭicca Samuppāda), thì:

1) Avijjā and Saṅkhāra are of the 2nd Past life Period,

1) Avijjā và Saṅkhāra thuộc Kiếp quá khứ thứ II

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā, Taṇhā, Upādāna, Bhava (Kamma Bhava) are of the 1st Past life Period,

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā, Taṇhā, Upādāna, Bhava (Kamma Bhava) thuộc Kiếp quá khứ thứ I,

3) Jāti, Jarā-Maraṇa are of the Present life Period.

3) Jāti, Jarā-Maraṇa thuộc Kiếp hiện tại.

Understand that it is based on the same method for the successive Past lives.

Cần hiểu là dựa trên cùng phương pháp quán đối với các kiếp Quá khứ khác.

If put the 1st Future life in the centre (of the Paṭicca Samuppāda cycle), then:

Nếu đặt Kiếp tương lai thứ I vào giữa (vòng Paṭicca Samuppāda), thì:

1) Avijjā and Saṅkhāra are of the Present life Period,

1) Avijjā và Saṅkhāra thuộc Kiếp hiện tại,

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā, Taṇhā, Upādāna, Bhava (Kamma Bhava) are of the 1st Future life Period,

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā, Taṇhā, Upādāna, Bhava (Kamma Bhava) thuộc Kiếp tương lai thứ I,

3) Jāti, Jarā-Maraṇa are of the 2nd Future life Period.

3) Jāti, Jarā-Maraṇa thuộc Kiếp tương lai thứ II.

Understand that for the successive Future lives is based on the same method.

Cần hiểu là đối với các kiếp Tương lai tiếp sau thì dựa trên cùng phương pháp.

Three Links

Ba liên kết

The ‘place’ where Cause and Effect are linking is called ‘link’.

‘Nơi’ mà Nhân và Quả liên kết với nhau được gọi là ‘liên kết’.

1) Linking Past Cause with Present Effect, there is one link between Saṅkhāra the Past Cause and Viññāṇa the Present Effect.

1) Liên kết giữa Nhân Quá khứ với Quả hiện tại, có một liên kết giữa Nhân Quá khứ Saṅkhāra và Quả Hiện tại Viññāṇa.

2) Linking Cause with Effect, there is one link between Vedanā the Present Cause and Taṇhā the Present Cause.

2) Liên kết giữa Nhân Hiện tại và Quả Hiện tại, có một liên kết giữa Nhân Hiện tại Vedanā và Quả Hiện tại Taṇhā.

3) Linking Cause with Effect, there is one link between Kamma Bhava the Present Cause and Jāti the Future Effect.

3) Liên kết giữa Nhân Hiện tại và Quả Tương lai, có một liên kết giữa Nhân Hiện tại Kamma Bhava và Quả tương lai Jāti.

Altogether there are 3 links between the 12 factors.  (Understand that it is the same for the successive Past lives and successive Future lives.)

Tổng cộng có 3 liên kết giữa 12 chi. (Cần hiểu tương tự cho các kiếp quá khứ kế tiếp, tương lai kế tiếp.)

Four Groups

Bốn Nhóm

1) As the Avijjā in the Past life period group is taken (as the object), then the Taṇhā and Upādāna (which are of the same Kilesa Vaṭṭa with Avijjā) should also be taken.  As the Saṅkhāra is taken, then the Kamma (which is of the same Kamma Vaṭṭa with Saṅkhāra) should also be taken.  Therefore there are 5 Past Causes: Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra, Kamma.  They are one Past Causes group.

1) Vì Avijjā trong Nhóm Kiếp Quá khứ được lấy (là đối tượng), như vậy Taṇhā và Upādāna (thuộc cùng Kilesa Vaṭṭa với Avijjā) cũng được gom chung. Vì Saṅkhāra được xét, như vậy Kamma (thuộc cùng Kamma Vaṭṭa với Saṅkhāra) cũng được gom chung. Bởi vậy có 5 Nhân Quá khứ: Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra, Kamma. Chúng là một nhóm Nhân Quá khứ.

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā are the 5 Present Effect that come to arise because of the 5 Past Causes.  They are one Present Effects group.

2) Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā là 5 Quả Hiện tại sanh lên bởi 5 Nhân Quá khứ. Chúng thuộc nhóm Quả Hiện tại.

3) In the Present Causes, as the Taṇhā and Upādāna are taken, then the Avijjā (which is of the same Kilesa Vaṭṭa) should also be taken.  As the Kamma Bhava (=Kamma) is taken, then the Saṅkhāra (which is of the same Kamma Vaṭṭa) should also be taken.  Therefore there are 5 Present Causes which are Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra, Kamma.  They are one Present Causes group.

3) Trong Nhân Hiện tại, vì Taṇhā và Upādāna được xét, nên Avijjā (thuộc cùng Kilesa Vaṭṭa) cũng được gom chung. Vì Kamma Bhava (=Kamma) được xét, nên Saṅkhāra (thuộc cùng Kamma Vaṭṭa) cũng được gộp chung. Vì vậy có 5 Nhân Hiện tại là Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra, Kamma. Chúng là nhóm Nhân Hiện tại.

4) Jāti is the Future Paṭisandhi NāmaRūpa group produced by the 5 Present Causes.  In other words, it is the Vipāka Vaṭṭa NāmaRūpa which are Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā.  They are one Future Effects group.

4) Jāti là Nhóm Paṭisandhi NāmaRūpa Tương lai được tạo bởi 5 Nhân Hiện tại. Hay nói cách khác, đây chính là Vipāka Vaṭṭa NāmaRūpa  gồm có Viññāṇa, NāmāRūpa, Saḷāyatana, Phassa, Vedanā. Chúng là một nhóm Quả Tương lai.

20 States

20 Hành tướng

There are altogether 20 states which are:

Có cả thảy 20 hành tướng như sau:

1) 5 Past Causes

5 Nhân Quá khứ

2) 5 Present Effects

5 Quả Hiện tại

3) 5 Present Causes

5 Nhân Hiện tại

4) 5 Future Effects

5 Quả Tương lai

Understand that it is the same for the successive Past lives and successive Future lives.

Cần hiểu tương tự như vậy cho những Kiếp Quá khứ kế tiếp và Tương lai kế tiếp khác.

Discernment To Know In Advance

Quán để biết rõ trước

PaccayaPariggaha Ñāṇa stage:- In the discernment of Causes and Effects in PaccayaPariggaha ñāṇa stage, it is to discern as:

Giai đoạn PaccayaPariggaha Ñāṇa: – trong việc quán Nhân và Quả trong PaccayaPariggaha Ñāṇa là việc quán:

“Because of the arising of Avijjā, Saṇkhāra arises.

“Vì sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh.

Avijjā is the Cause, Saṇkhāra is the Effect…..etc”

Avijjā là Nhân, Saṇkhāra là Quả…”

Sammasana Ñāṇa stage and the early Udayabbaya Ñāṇa stage:-  In the Sammasana Ñāṇa and the early Udayabbaya Ñāṇa stages of taking the arising and perishing away of the 12 factors of Paṭicca Samuppāda as object and meditating on their Three Characteristics, it is to discern as:

Giai đoạn Sammasana Ñāṇa và khởi đầu của giai đoạn Udayabbaya Ñāṇa: – Sammasana Ñāṇa và giai đoạn Udayabbaya Ñāṇa lấy sự sanh và diệt của 12 chi thuộc Paṭicca Samuppāda làm đối tượng và quán trên Ba Tướng của chúng là:

“Because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arises.

“Bởi sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh.

  Avijjā (arising and perishing away) — Anicca (Dukkha, Anatta).

Avijjā (sanh và diệt) – Anicca (Dukkha, Anatta).

  Saṅkhāra (arising and perishing away) — Anicca (Dukkha, Anatta).

Saṅkhāra (sanh và diệt) – Anicca (Dukkha, Anatta).

Matured Udayabbaya Ñāṇa stage:-  In the matured Udayabbaya Ñāṇa stage’s detailed method of Vipassanā meditation on the Three Characteristics of the Paṭicca Samuppāda factors it is to meditate as:

Giai đoạn Udayabbaya Ñāṇa già dặn: = phương pháp chi tiết của thiền Vipassanā trên Ba Tướng của các chi thuộc Paṭicca Samuppāda ở giai đoạn Udayabbaya Ñāṇa già dặn thì quán là:

1) Paccayato Udayadassana = In meditating on “Because of the arising of the Cause, Effect arises” it is to meditate as: “Because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arises;  Because of the arising of Saṅkhāra, Viññāṇa arises….etc”.

1) Paccayato Udayadassana = quán “Vì sự sanh của Nhân, Quả sanh”, tức quán là: “Vì sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh; Vì sự sanh của Saṅkhāra, Viññāṇa sanh…”

2) Paccayato Vayadassana = In meditating on “Because of the cessation of the Cause, Effect ceases” it is to meditate as “Because of the cessation of Avijjā, Saṅkhāra ceases;  Because of the cessation of Saṅkhāra, Viññāṇa ceases…..etc”.

2) Paccayato Vayadassana = quán “Vì sự diệt của Nhân, Quả diệt” tức quán là: “Vì sự diệt của Avijjā, Saṅkhāra diệt; Vì sự diệt của Saṅkhāra, Viññāṇa diệt…”

3) Khaṇato Udayadassana = In the stage of meditating on momentary arising, it is to meditate, having taken as object only the arising phase of the Paṭicca Samuppāda factors such as: the arising phase of Avijjā, the arising phase of Saṅkhāra….etc.

3) Khaṇato Udayadassana = Giai đoạn quán sát-na sanh, sau khi lấy đối tượng chỉ là giai đoạn sanh của các chi thuộc Paṭicca Samuppāda thì quán là: giai đoạn sanh của Avijjā, giai đoạn sanh của Saṅkhāra…

4) Khaṇato Vayadassana = In the stage of meditating on momentary perishing, it is to meditate, having taken as object only the perishing phase of the Paṭicca Samuppāda factors such as: the perishing phase of Avijjā, the perishing phase of Saṅkhāra….etc.

4) Khaṇato Vayadassana = Giai đoạn quán trên sát-na diệt, sau khi lấy đối tượng chỉ là giai đoạn diệt của các chi thuộc Paṭicca Samuppāda quán là: giai đoạn diệt của Avijjā, giai đoạn diệt của Saṅkhāra…

5) In the Paccayato Udayabbaya Dassana, Khaṇato Udayabbaya dassana stage it is to meditate as “Because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arises;  Because of the cessation of Avijjā, Saṅkhāra ceases;  Avijjā (arising and perishing) – Anicca;  Saṅkhāra (arising and perishing) – Anicca…..etc”.

5) Trong giai đoạn Paccayato Udayabbaya Dassana, Khaṇato Udayabbaya dassana thì phải quán là “Bởi sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh; bởi sự diệt của Avijjā, Saṅkhāra diệt; Avijjā (sanh và diệt) – Anicca; Saṅkhāra (sanh và diệt) – Anicca…”

Bhaṅga Ñāṇa stage:-  In the higher Vipassanā ñāṇa stages such as Bhaṅga ñāṇa stage of meditating on the Three Characteristics of these Paṭicca Samuppāda factors after having discerned only their perishing away, without paying attention on “because of the arising of the Cause, Effect arises” called UpādinnakaPavatta, it is to meditate on their Three Characteristics alternately as follows:

Giai đoạn Bhavaṅga Ñāṇa: – trong các giai đoạn Vipassanā ñāṅa cao hơn như là Bhaṅga ñāṇa thì quán trên Ba Tướng của các chi Paṭicca Samuppāda sau khi quán chỉ trên sự diệt của chúng mà không chú ý đến “bởi sự sanh của Nhân, Quả sanh” được gọi là UpādinnakaPavatta, cần quán luân phiên trên Ba Tướng như sau:

“Avijjā  (perishing away, perishing away) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

“Avijjā (diệt, diệt) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

Saṅkhāra (perishing away, perishing away) – Anicca (-Dukkha, -Anatta)….etc”

Saṅkhāra (diệt, diệt) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

Only when the perishing away appears quickly to the insight, it is to meditate as:

Chỉ khi sự diệt xuất hiện nhanh chóng trong minh sát, thì cần quán là:

“Avijjā  (perishing away, perishing away) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

“Avijjā (diệt, diệt) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

The Meditating Insight Ñāṇa (perishing away, perishing away) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

Ñāṇa minh sát đang quán (diệt, diệt) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

Saṅkhāra (perishing away, perishing away) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

Saṅkhāra (diệt, diệt) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);

The Meditating Insight Ñāṇa (perishing away, perishing away) – Anicca (-Dukkha, -Anatta)….etc”

Ñāṇa minh sát đang quán (diệt, diệt) – Anicca (-Dukkha, -Anatta);…”

In that discernment it is to meditate on the Vīthi Citta process that arose, arise and will arise in the Causes and Effects; and also to meditate on the meditating insight by insight to break up the compactness of NāmaRūpa.

Trong việc quán ở trên, cần quán đối với các tiến trình Vīthi Citta đã sanh, đang sanh và sẽ sanh theo Nhân và Quả; và cũng cần phải quán minh sát đang quán bằng minh sát khác để phá vỡ tính khối của NāmāRūpa.

Each Own

Của mỗi người

Every living being has their own respective Avijjā and respective Saṅkhāra.  Avijjās are not the same between living beings; Saṅkhāra also are not the same between living beings.  One had done and accumulated Saṅkhāra-Kamma ‘surrounded’ by the Avijjā-Taṇhā-Upādāna of the aspiration to become a male; another had done and accumulated Saṅkhāra-Kamma ‘surrounded’ by the Avijjā-Taṇhā-Upādāna of the aspiration to become a female.  Therefore Avijjā are not the between living beings.  Then again, in one being Dāna Kamma produced the Effect; in another, Sīla Kamma produced the Effect and yet in another Bhāvanā Kamma produced the Effect.  Furthermore, in Dāna Kamma, the Kamma of offering food produced the Effect in one while the Kamma of offering flowers produced the Effect in another.  Therefore Avijjā and Saṅkhāra are not the same between living beings.  There is each own Avijjā and each own Saṅkhāra.  Even in the NāmaRūpa continuity process of oneself, the Avijjā and Saṅkhāra are not the same between existences; the differences exist accordingly.

Mỗi chúng sanh có riêng cho mình Avijjā riêng và Saṅkhāra riêng. Avijjā không giống nhau giữa các chúng sanh; Saṅkhāra cũng không giống nhau giữa các chúng sanh. Một người đã làm và tích tập Saṅkhāra – Kamma được ‘vây quanh’ bởi Avijjā – Taṅhā – Upādāna của ước nguyện trở thành người nam; những người khác đã làm và tích tập Saṅkhāra – Kamma được ‘vây quanh’ bởi Avijjā – Taṅhā – Upādāna của ước nguyện trở thành người nữ. Vì vậy Avijjā giữa các chúng sanh là khác nhau. Lại nữa, nơi một chúng sanh thì Dāna Kamma cho Quả; nơi chúng sanh khác thì Sīla Kamma cho Quả và nơi chúng sanh khác thì Bhāvanā Kamma cho Quả. Hơn nữa, trong Dāna Kamma, nơi người này thì Kamma cúng dường vật thực cho Quả, nơi chúng sanh khác thì Kamma cúng dường hoa cho Quả. Như vậy Avijjā và Saṅkhāra không giống nhau giữa các chúng sanh. Mỗi cá thể có Avijjā và Saṅkhāra riêng mình. Thậm chí trong tiến trình liên tục của NāmāRūpa của một cá thể, Avijjā và Saṅkhāra không giống nhau giữa các kiếp; tùy theo các khác biệt hiện hữu.

Therefore it is to discern by insight the Avijjā, Saṅkhāra which arose, arise and will arise in one’s own NāmaRūpa process only.  As the technique to search for Avijjā-Taṇhā-Upādāna-Saṅkhāra-Kamma has been explained sufficiently in the Paṭicca Samuppāda 5th Method it will not be mentioned here again; but only the discernment will be shown.  In this booklet it is shown as “Because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arises….etc”.  Base on these statements, meditate in the PaccayaPariggaha Ñāṇa, Udayabbaya Ñāṇa and Bhaṅga Ñāṇa stages according to that mentioned above.

Do vậy việc quán bằng minh sát Avijjā, Saṅkhāra đã sanh, đang sanh và sẽ sanh được thực hiện chỉ trong tiến trình NāmāRūpa của một cá nhân mà thôi. Vì kỹ thuật tìm Avijjā – Taṅhā – Upādāna – Saṅkhāra – Kamma đã được giải thích đầy đủ trong Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 5, do đó, nó sẽ không được đề cập lại; nhưng chỉ có phần Quán sẽ được trình bày. Trong quyển sách nhỏ này, nó được trình bày là “Bởi sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh…” Dựa trên các lời phát biểu này, trong các giai đoạn PaccayaPariggaha Ñāṇa, Udayabbaya Ñāṇa và Bhaṅga Ñāṇa, quán theo phần đề cập ở trên.

AVIJJĀPACCAYĀ SAṄKHĀRĀ

AVIJJĀPACCAYA SAṄKHĀRA

(Because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arise.)

(Bời sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh.)

Having seen by insight that “because of the Kilesa Vaṭṭa which is Avijjā (Taṇhā, Upādāna) accumulated in the Past life, the Kamma Vaṭṭa which is Saṅkhāra (Kamma) also accumulated in the Past life arises” then it is to discern the Cause and Effect as follows:

Sau khi thấy với minh sát rằng “Bởi Kilesa Vaṭṭa gồm có Avijjā (Taṇhā, Upādāna) được tích tập trong kiếp Quá khứ, Kamma Vaṭṭa gồm có Saṅkhāra (Kamma) cũng được tích lũy trong kiếp Quá khứ được sanh lên”, kế đến cần phải quán Nhân và Quả như sau:

‘Because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arises.

‘Bởi sự sanh của Avijjā, Saṅkhāra sanh.

Avijjā is the Cause, Saṅkhāra is the Effect.’

Avijjā là Nhân, Saṅkhāra là Quả.’

In this case, Avijjā and Saṅkhāra arose in the Past as in the following Vīthi Citta process:

Trong trường hợp này, Avijjā và Saṅkhāra đã sanh trong Quá khứ theo tiến trình Vīthi Citta như sau:

ManodvāraVīthi

ManodvāraVīthi

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

avijjā

12

20

12\34 —

saṅkhārā

12

34

34\12 —

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

avijjā

12

20

12\34 —

saṅkhārā

12

34

34\12 —

NOTES: Avijjā arises mostly as Lobha-Diṭṭhi group 20 (Citta cetasika).  Sometimes it may arise as 19 (Citta cetasika) being accompanied with Upekkhā Vedanā, without Pīti.  Sometimes it may arise as 22 or 21 which is together with Thina+Middha.  These are the 4 types of Lobha Mūla Diṭṭhigatasampayutta Citta.  Tadārammaṇa may or may not arise.  If Tadārammaṇa arises and Pīti is included in the Javana then pīti is also included in the Tadārammaṇa.  Sahetuka Tadārammaṇa or Ahetuka Tadārammaṇa can arise accordingly.  Take note that the method is similar for Saṅkhāra.  It is especially the Saṅkhāra of human beings that is being shown as an example above.  In that Saṅkhāra, Ñāṇa and Pīti can arise accordingly.  As shown in the Nāma Kammaṭṭhāna Tables, it may arise as 34 or 33 or 33 or 32 accordingly.  Tadārammaṇa may or may not arise.  When the meditator has reached the Vipassanā meditation stage, he is to meditate on the Three Characteristics of the Cause and Effect, after having discerned their arising and perishing away according to the Vīthi mind process shown.  Break down each compactness (ghana) by insight.  As Pañcadvāra Vīthis cannot produce the Paṭisandhi Effect (but can only produce Pavatti Effect), only the Manodvāra Vīthi type is shown.

Lưu ý: Avijjā sanh lên hầu hết là nhóm 20 (Citta cetasika) Lobha – Diṭṭhi. Thỉnh thoảng nó có thể sanh lên là 19 (Citta cetasika) khởi lên cùng với Upekkhā Vedanā, không có Pīti. Thỉnh thoảng nó có thể sanh lên là 22 hay 21 cùng với Thina + Middha. Đây là 4 loại của Lobha Mūla Diṭṭhigatasampayutta Citta. Tadārammaṇa có thể sanh hoặc không sanh. Nếu Tadārammaṇa sanh và Pīti có mặt trong Javana thì pīti cũng có mặt trong Tadārammaṇa. Sahetuka Tadārammaṇa hay Ahetuka Tadārammaṇa tùy theo có thể sanh. Lưu ý rằng phương pháp này cũng giống cho Saṅkhāra. Đặc biệt là Saṅkhāra của con người được trình bày làm ví dụ ở trên. Trong Saṅkhāra đó, Ñāṇa và Pīti tùy theo có thể sanh. Như đã được trình bày trong bảng Nāmā Kammaṭṭhāna, nó có thể sanh lên là 34 hay 33 hay 33 hay 32 tùy theo. Tadārammaṇa có thể sanh hay không sanh. Khi thiền giả đạt đến giai đoạn quán Vipassanā, vị đó cần phải quán trên Ba tướng của Nhân và Quả, sau khi phân định sự sanh và diệt theo tiến trình tâm Vīthi đã được trình bày. Phá vỡ tính khối (ghana) bằng minh sát. Vì Pañcadvāra Vīthi không thể tạo nên Quả Paṭisandhi (nhưng có khả năng tạo nên Quả Pavatti), chỉ có loại Manodvāra Vīthi được trình bày.

SAṄKHĀRAPACCAYĀ VINNANAṂ

SAṄKHĀRAPACCAYĀ VINNANAṀ

(Because of the arising of Saṅkhāra, Vipāka Viññāṇa arise.) (Vism., XVII, 121)

(Bởi sự sanh của Saṅkhāra, Vipāka Viññana sanh.) (Vism., XVII, 121)

NOTES: In “Because of Avijjā, Saṅkhāra arises” and “Because of Saṅkhāra, Viññāṇa arises”, it refers to the natural force, Atthi Bhāva, of Avijjā and Saṅkhāra.  Avijjā and Saṅkhāra are mostly separated by many mind moments (Cittakkhaṇa) or many Vīthi Citta mind processes.  Sometimes Avijjā and Akusala Saṅkhāra may arise in one mind moment or in one Vīthi mind process together.  But it (the Avijjā) may be separated by many Vīthi mind processes from the Kusala Saṅkhāra which can produce Kusala Vipāka Viññāṇa such as Paṭisandhi Vipāka Viññāṇa of the Present human life.  Similarly, in “Because of Saṅkhāra, Vipāka Viññāṇa arise” the Saṅkhāra and Vipāka Viññāṇa are separated by life.  Therefore at the time of the arising-static (duration)-perishing phases of the Effect, the arising-static-perishing phases of the Cause no longer occur.  Therefore, as it is only when the arising-static-perishing phases of Avijjā and Saṅkhāra no longer occur that they produces the Effect, when mentioning that because of Avijjā-Saṅkhāra the respective Effect arises it means the existence of the natural Satti force (= Atthi Bhāva) of Avijjā and Saṅkhāra which can produce the respective Effect. 

Lưu ý: trong câu “Bởi Avijjā, Saṅkhāra sanh” và “Bởi Saṅkhāra, Viññāṇa sanh”, điều này liên hệ đến lực tự nhiên, Atthi Bhāva, của Avijjā và Saṅkhāra. Avijjā và Saṅkhāra hầu hết bị tách rời bởi nhiều sát-na tâm (Cittakkhaṇa) hay nhiều tiến trình Vīthi Citta. Thỉnh thoảng Avijjā và Akusala Saṅkhāra có thể sanh trong cùng một sát-na tâm hay trong một tiến trình tâm Vīthi với nhau. Nhưng nó (Avijjā) có thể bị tách rời bởi nhiều tiến trình Tâm Vīthi khỏi các Kusala Saṅkhāra là cái có khả năng tạo Kusala Vipāka Viññāṇa như là Paṭisandhi Vipāka Viññāṇa của kiếp sống con người hiện tại. Tương tự, trong câu “Bởi Saṅkhāra, Vipāka Viññāṇa sanh”, Saṅkhāra và Vipāka Viññāṇa bị ngăn cách bởi kiếp sống. Do vậy vào giai đoạn sanh –trụ – diệt của Quả, giai đoạn sanh – trụ – diệt của Nhân không còn xảy ra. Bởi vậy, chỉ duy nhất khi nào giai đoạn sanh – trụ – diệt của Avijjā và Saṅkhāra không còn xuất hiện thì chúng tạo Quả, khi đề cập rằng do Avijjā – Saṅkhāra, Quả tương ứng sanh lên thì có nghĩa là do sự hiện hữu là lực Satti tự nhiên (=Atthi Bhāva) của Avijjā và Saṅkhāra là cái có thể tạo nên Quả tương ứng.

That natural Satti force is the Kamma Satti force of Kusala Saṅkhāra dhamma group ‘surrounded’ by Avijjā-Taṇhā-Upādāna (this refers to the aspiration to be a human being).  The doing\accumulation of the Kamma is essential in this natural Satti force.  Only when the Saṅkhāra dhamma (=Kusala Saṅkhāra, Akusala Saṅkhāra) has been done\accumulated then it can become the Cause for the Effect.  It is not essential as to whether its arising-static-perishing phases are occurring or not.

Lực Satti tự nhiên đó là lực Kamma Satti của nhóm Kusala Saṅkhāra dhamma ‘bị vây quanh’ bởi Avijjā – Taṇhā – Upādāna (ở đây liên hệ đến ước nguyện được trở thành người). Hành động/sự tích lũy của Kamma là điều thiết yếu của lực Satti tự nhiên này. Chỉ khi Saṅkhāra dhamma (=Kusala Saṅkhāra, Akusala Saṅkhāra) đã được làm/tích tập rồi thì mới có thể trở thành Nhân để cho Quả. Điều không phải cốt yếu là bất kể giai đoạn sanh-trụ-diệt của nó có đang xảy ra hay không.

Kāmāvacarassa kusalassa kammassa katattā upacitattā vipākaṁ cakkhuviññāṇaṁ uppannaṁ hoti – as the Kāmāvacara Kusala Kamma has been done and accumulated, Kusala Vipāka Cakkhu Viññāṇa comes to arise. (Abhidhamma-Bk.I-104)

Kāmāvacarassa kusalassa kammassa katattā upacitattā vipākaṁ cakkhuviññāṇaṁ uppannaṁ hoti – bởi Kāmāvacara Kusala Kamma đã được làm và tích tập, Kusala Vipāka Cakkhu Viññāṇa đạt đến sanh khởi. (Abhidhamma-Bk.I-104)

Viññāṇa

Viññāṇa

Because of the existence of Saṅkhāra accumulated for Present Saṁsāra, the 6 Vipāka Viññāṇa:-CakkhuViññāṇa, Sota Viññāṇa, Ghāna Viññāṇa, Jivhā Viññāṇa, Kāya Viññāṇa, Mano Viññāṇa arise.

Bởi sự hiện hữu của Saṅkhāra tích tập cho Saṁsāra Hiện tại, 6 Vipāka Viññāṇa, – Cakkhu Viññāṇa, Sota Viññāṇa, Ghāna Viññāṇa, Jivhā Viññāṇa, Kāya Viññāṇa, Mano Viññāṇa sanh khởi.

Vipāka Viññāṇa = Vipāka Manoviññāṇa

Vipāka Viññāṇa = Vipāka Manoviññāṇa

Take these two  types:-PañcaViññāṇa and Vipāka Manoviññāṇa – as ‘Vipāka Viññāṇa’.  Vipāka Manoviññāṇa includes Vīthi Mutta Citta which are Paṭisandhi Viññāṇa, Bhavaṅga Viññāṇa, Cuti Viññāṇa.  It also includes Vīthi Citta which are Sampaṭicchana, Santīraṇa and Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas.  The PañcaViññāṇas and Sampaṭicchana, Santīraṇa, Ahetuka Tadārammaṇa may be Kusala Vipāka or Akusala Vipāka.  As the PañcaViññāṇas, Sampaṭicchana, Santīraṇa,Tadārammaṇa arise according to the natural fixed law, Citta Niyama of mental process called Vīthi, one must discern the Cause and Effect according to the Vīthi mind process in which they arise; and also when meditating Vipassanā on them.  In discerning according to Vīthi mind process, Kiriyā Citta which are Pañcadvārāvajjana-Votthapana-Manodvārāvajjana and Kusala\Akusala Cittas (called Javana) also arise in the Vīthi mind process with the Vipāka Viññāṇas.  (Votthapana is also spelled as Voṭṭhabbana).  Therefore, with the intention that none of the Paramattha Dhātu which arise in the Vīthi mind process are left out, there is no fault if one meditates Vipassanā on the Kiriyā Cittas and Kusala\Akusala Cittas also.  However in linking the causal relationships, having seen by insight, discern the causal relationships between Saṅkhāra and Vipāka Viññāṇa only –  as shown.  Discern in all 6 lines, from Rupārammaṇa line to Dhammārammaṇa line as shown in the Nāma Kammaṭṭhāna tables.  Discern all Vipāka Viññāṇa which exist in Kusala Javana Vīthi and Akusala Javana Vīthi of each line.  The followings are some examples of the discernment.

Xét hai loại: – PañcaViññāṇa và Vipāka Manoviññāṇa – là ‘Vipāka Viññāṇa’. Vipāka Manoviññāṇa bao gồm Vīthi Mutta Citta như là Paṭisandhi Viññāṇa, Bhavaṅga Viññāṇa, Cuti Viññāṇa. Và cũng bao gồm có Vīthi Citta là Sampaṭicchana, Santīraṇa và Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa. PañcaViññāṇa và Sampaṭicchana, Santīraṇa, Ahetuka Tadārammaṇa có thể là Kusala Vipāka hay Akusala Vipāka. Vì PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa sanh dựa trên quy luật tự nhiên cố định, Citta Niyama của tiến trình tâm gọi là Vīthi, hành giả cần phải quán Nhân và Quả theo tiến trình tâm Vīthi nơi mà chúng khởi sanh; và cũng vào khi thiền Vipassanā trên chúng. Trong việc quán theo tiến trình tâm Vīthi, Kiriyā Citta như là  Pañcadvārāvajjana – Votthapana-Manodvārāvajjana và Kusala/Akusala Citta (gọi là Javana) cũng sanh khởi trong tiến trình tâm Vīthi với các Vipāka Viññāṇa (Votthapana cũng được đọc như Voṭṭhabbana). Do vậy, với mục tiêu rằng không để một Paramattha Dhātu nào sanh lên ở tiến trình tâm Vīthi lại bị bỏ sót, nên không có lỗi gì nếu hành giả cũng quán Vipassanā trên Kiriyā Citta và Kusala/Akusala Citta. Tuy nhiên, trong liên kết các mối quan hệ nhân quả, sau khi thấy bằng minh sát, chỉ quán các mối liên kết nhân quả giữa Saṅkhāra và Vipāka Viññāṇa như đã trình bày. Quán tất cả 6 dòng, từ Rūpārammaṇa đến dòng Dhammārammaṇa như đã trình bày trong bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Quán tất cả Vipāka Viññāṇa xuất hiện trong Kusala Javana Vīthi và Akusala Javana Vīthi của mỗi dòng. Sau đây là một vài ví dụ quán.

The Discernment Of Vīthi Mutta Citta

Quán Vīthi Mutta Citta

1) Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Paṭisandhi Viññāṇa arises.

1) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Paṭisandhi Viññāṇa sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Paṭisandhi Viññāṇa is the Effect.

Saṅkhāra (=34) là Nhân, Paṭisandhi Viññāṇa là Quả.

2) Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Bhavaṅga Viññāṇa arises.

2) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Bhavaṅga Viññāna sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Bhavaṅga Viññāṇa is the Effect.

 Saṅkhāra (=34) là Nhân, Bhavaṅga Viññāṇa là Quả.

3) Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Cuti Viññāṇa arises.

3) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Cuti Viññāṇa sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Cuti Viññāṇa is the Effect.

Saṅkhāra (=34) là Nhân, Cuti Viññāṇa là Quả.

Cakkhudvāra Vīthi Vipāka Viññāṇas

Cakkhudvāra Vīthi Vipāka Viññāṇa

1)         Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Cakkhu Viññāṇa arises.

1) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Cakkhu Viññāṇa sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Cakkhu Viññāṇa is the Effect.

Saṅkhāra (=34) là Nhân, Cakkhu Viññāṇa là Quả.

2) Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Sampaṭicchana Viññāṇa arises.

2) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Sampaṭicchana Viññāṇa sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Sampaṭicchana Viññāṇa is the Effect.

Saṅkhāra (=34) là Nhân, Sampaṭicchana Viññāṇa là Quả.

3)         Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Santīraṇa Viññāṇa arises.

3) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Santīraṇa Viññāṇa sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Santīraṇa Viññāṇa is the Effect.

Saṅkhāra (=34) là Nhân, Santīraṇa Viññāṇa là Quả.

4)         Because of the arising of Saṅkhāra (=34), Tadārammaṇa Viññāṇa arises.

4) Bởi sự sanh của Saṅkhāra (=34), Tadārammaṇa Viññāṇa sanh.

     Saṅkhāra (=34) is the Cause, Tadārammaṇa Viññāṇa is the Effect.

Saṅkhāra (=34) là Nhân, Tadārammaṇa là Quả.

{NOTES: In discerning the 2 times arising of Tadārammaṇa in Cakkhudvāra Vīthi and the 2 times arising of Tadārammaṇa in the ManodvāraVīthi which takes the Rūpārammaṇa as object, discern both times.  Discern all Vipāka Viññāṇa in the whole process of Cakkhudvāra Vīthi as shown in the Nāma Kammaṭṭhāna Tables.  Discern all Kusala Javana Vīthi and Akusala Javana Vīthi.  Based on this method, discern: SotaViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas in Saddārammaṇa line; GhānaViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas in Gandhārammaṇa line; JivhāViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas in Rasārammaṇa line; KāyaViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas in Phoṭṭhabbārammaṇa line; and Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas in Dhammārammaṇa line.  When one reaches the Vipassanā stage later, there is no fault to meditate Vipassanā on the Pañcadvārāvajjana [which is the beginning of the Vīthi mind process where the Vipāka Viññāṇas are included] and on the Votthapana & Javana [which are in the middle] in Pañcadvāra Vīthi; and on the Manodvārāvajjana of ManodvāraVīthi with the intention that no Paramattha Dhātu are left out.}

(Lưu ý: trong việc quán 2 lần sanh lên của Tadārammaṇa trong Cakkhudvāra Vīthi và 2 lần sanh của Tadārammaṇa trong Manodvāra Vīthi mà lấy đối tượng là Rūpārammaṇa, quán cả hai lần. Quán tất cả Vipāka Viññāṇa trong suốt tiến trình của Cakkhudvāra Vīthi như đã trình bày trong bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Quán tất cả Kusala Javana Vīthi và Akusala Javana Vīthi. Dựa trên cách này, quán SotaViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa- Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa thuộc dòng Saddārammaṇa; GhānaViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa thuộc dòng Gandhārammaṇa; JivhāViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa thuộc dòng Rasārammaṇa; KāyaViññāṇa-Sampaṭicchana-Santīraṇa-Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa thuộc dòng Phoṭṭhabbārammaṇa; và Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa thuộc dòng Dhammārammaṇa. Khi đến giai đoạn Vipassanā sau này, không có lỗi lầm gì khi hành giả quán Vipassanā trên Pañcadvārāvajjana [là (thức) bắt đầu của tiến trình tâm Vīthi là nơi mà Vipāka Viññāṇa được bao gồm] và trên Votthapana & Javana [thuộc khúc giữa] trong Pañcadvāra Vīthi; và trên Manodvārāvajjana của ManodvāraVīthi với mục tiêu là không để sót một Paramattha Dhātu nào.)

VIÑÑĀṆAPACCAYĀ NĀMARŪPAṂ

 VIÑÑĀṆAPACCAYĀ NĀMARŪPAṀ

(Because of the arising of Viññāṇa, NāmaRūpa arise)

(Bởi sự sanh của Viññāṇa, NāmaRūpa sanh)

Yañhi nāmarūpassa hetu viññāṇaṁ, taṁ vipākāvipāka bhedato dvidhā mataṁ (Vism., XVII, 199)

Yañhi nāmarūpassa hetu viññāṇaṁ, taṁ vipākāvipāka bhedato dvidhā mataṁ (Vism., XVII, 199)

Both (1)Vipāka Viññāṇa and (2)Avipāka Viññāṇa(=Abhisaṅkhāra Viññāṇa) can be taken as the ‘Viññāṇa’ which is the Cause of NāmaRūpa.

Cả (1) Vipāka Viññāṇa và (2) Avipāka Viññāṇa (= Abhisaṅkhāra Viññāṇa) có thể được xem là ‘Viññāṇa’ mà là Nhân của NāmaRūpa.

Vipāka Viññāṇas are also called Sahajāta Viññāṇa.  It means the Viññāṇa which arises together with the accompanying Cetasika.  Paṭisandhi, Bhavaṅga and Cuti are the Vipāka Viññāṇas which occur without Vīthi process (Vīthi Mutta Citta); PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa are the Vipāka Viññāṇas which are part of Vīthi Citta process.  However Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana, Manodvārāvajjana Viññāṇas are also Sahajāta Viññāṇa; it means Viññāṇa which arises accompanying together with Cetasika.  Among the discernment of Vipāka Viññāṇa and Avipāka Viññāṇa — as Avipāka Viññāṇa is linked with Saṅkhāra — the discernment of Avipāka Viññāṇa will be shown first.  The Avipāka Viññāṇa is called Abhisaṅkhāra Viññāṇa in the Commentary (Vism., XVII, 199).  It means the Viññāṇa which is ‘forming’ to produce a new state of existence (Bhava).  In the sub-Commentary it is called Kamma Viññāṇa (Mahā Ṭīka-Vol. II-315, Burmese script).

Vipāka Viññāṇa cũng được gọi là Sahajāta Viññāṇa. Nó có nghĩa là Viññāṇa đồng sanh với Cetasika đi cùng. Paṭisandhi, Bhavaṅga và Cuti là Vipāka Viññāṇa xuất hiện ngoài tiến trình Vīthi (Vīthi Mutta Citta); PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa là Vipāka Viññāṇa thuộc về tiến trình Vīthi Citta. Tuy nhiên, Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana, Manodvārāvajjana Viññāṇa cũng là Sahajāta Viññāṇa; nghĩa là Viññāṇa đồng khởi sanh với Cetasika. Trong sự quán Vipāka Viññāṇa và Avipāka Viññāṇa – vì Avipāka Viññāṇa được liên kết với Saṅkhāra – việc quán Avipāka Viññāṇa sẽ được trình bày trước. Avipāka Viññāṇa được gọi là Abhisaṅkhāra Viññāṇa trong Chú giải (Vism., XVII, 199). Nó có nghĩa Viññāṇa được hình thành để tạo nên trạng thái hiện hữu (Bhava) mới. Trong phụ chú giải nó được gọi là Kamma Viññāṇa (Mahā Ṭika – Vol. II – 315, Burmese script)

Kamma Viññāṇa = Abhisaṅkhāra Viññāṇa

Kamma Viññāṇa = Abhisaṅkhāra Viññāṇa

The (Kusala\Akusala) Viññāṇa accompanying with the Saṅkhāra and Kamma done and accumulated in the Past life is Kamma Viññāṇa; that is, the consciousness Viññāṇa which is part of the Cause Saṅkhāra Nāma dhamma group (34) mentioned above as “Saṅkhārapaccayā Viññāṇa” is Kamma Viññāṇa (= Abhisaṅkhāra Viññāṇa).  At this stage it is especially to discern mainly the Kamma Viññāṇa (= Abhisaṅkhāra Viññāṇa).

(Kusala\Akusala) Viññāṇa đồng hành với Saṅkhāra và Kamma đã làm và tích lũy trong kiếp Quá khứ là Kamma Viññāṇa; đó là, thức Viññāṇa, là thành phần của nhóm Nhân Saṅkhāra Nāma Dhamma (34) được đề cập ở trên là: “Saṅkhārapaccayā Viññāṇa” là Kamma Viññāṇa (=Abhisaṅkhāra Viññāṇa). Ở giai đoạn này cần tập trung quán Kamma Viññāṇa (=Abhisaṅkhāra Viññāṇa).

The (Kusala\Akusala) Viññāṇa accompanying together with Present Saṅkhāra and Kamma being done and accumulated to attain a Future life is also Kamma Viññāṇa (= Abhisaṅkhāra Viññāṇa).

(Kusala\Akusala) Viññāṇa đồng hành với Saṅkhāra và Kamma đang được làm và tích tập để đạt được một kiếp Tương lai cũng là Kamma Viññāṇa (= Abhisaṅkhāra Viññāṇa).

One can discern the Cause and Effect after having seen by experiential insight that the arising of the Present Vipāka NāmaRūpa = Vipāka Citta+Cetasika+Kammaja Rūpa such as Paṭisandhi Vipāka NāmaRūpa is because of the Kamma Viññāṇa in the Past; and that the arising of the Future Vipāka NāmaRūpa = Vipāka Citta+Cetasika+Kammaja Rūpa such as Paṭisandhi NāmaRūpa in the Future is because of the Kamma Viññāṇa in the Present.  However at this stage it is to discern to see by experiential insight (Paccakkha ñāṇa) that the arising of Present Vipāka NāmaRūpa is because of Kamma Viññāṇa in the Past.

Hành giả có thể quán Nhân và Quả sau khi đã thấy bằng kinh nghiệm minh sát rằng sự sanh của Vipāka NāmaRūpa Hiện tại = Vipāka Citta + Cetasika + Kammaja Rūpa như là Paṭisandhi Vipāka NāmaRūpa là bởi Kamma Viññāṇa trong Quá khứ; và rằng sự sanh của Vipāka NāmaRūpa Tương lai = Vipāka Citta + Cetasika + Kammaja Rūpa như là Paṭisandhi NāmaRūpa trong tương lai là do Kamma Viññāṇa trong Hiện tại. Dù sao trong giai đoạn này, việc quán để thấy bằng kinh nghiệm minh sát (Paccakkha ñāṇa) rằng sự sanh của Vipāka NāmaRūpa là bởi Kamma Viññāṇa trong Quá khứ.

Nāma Rūpa

Nāma Rūpa

As mentioned above, only Kamma Viññāṇa is taken as “Viññāṇa” on the side of Cause.  As for the Effect NāmaRūpa, not only the Cetasika group but the pertaining Viññāṇa also must be taken as ‘‘Nāma”; and only Kammaja Rūpa is directly taken as “Rūpa”.  However, there is no fault that in Vipassanā stage if one discerns the Kammaja Rūpa, he also meditates Vipassanā on the remaining Cittaja, Utuja, Āhāraja Rūpas which are inseparable and can be seen mixed together.  In linking the Cause and Effect, link only with Kammaja Rūpa.  The following are some of the discernment.

Như đã đề cập ở trên, chỉ Kamma Viññāṇa được xem như “Viññāṇa” ở về phía Nhân. Còn về phía NāmaRūpa Quả, không chỉ là nhóm Cetasika mà Viññāṇa đi cùng  cũng phải được xem như “Nāma”; và chỉ Kammaja Rūpa được trực tiếp xem như “Rūpa”. Dù vậy, không có lỗi gì khi trong giai đoạn Vipassanā, nếu hành giả quán Kammaja Rūpa, vị ấy cũng quán Vipassanā trên những Cittaja, Utuja, Āhāraja Rūpa là những sắc không thể tách rời và có thể thấy chúng trộn lẫn với nhau. Trong liên kết giữa Nhân và Quả, thì chỉ liên kết với Kammaja Rūpa. Sau đây là một vài sự quán.

Some Examples Of The Discernment

Một vài ví dụ của việc quán

1) Because of the arising of the Past Kamma Viññāṇa, Paṭisandhi NāmaRūpa arise.

1) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, Paṭisandhi NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, Paṭisandhi NāmaRūpa is the Effect.

Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, Paṭisandhi NāmaRūpa là Quả.

2) Because of the arising of the Past Kamma Viññāṇa, Bhavaṅga NāmaRūpa arise.

2) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, Bhavaṅga NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, Bhavaṅga NāmaRūpa is the Effect.

Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, Bhavaṅga NāmaRūpa là Quả.

3) Because of the arising of the Past Kamma Viññāṇa, Cuti NāmaRūpa arise.

3) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, Cuti NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, Cuti NāmaRūpa is the Effect.

Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, Cuti NāmaRūpa là Quả

CakkhuDvāra Vīthi – Vipāka NāmaRūpa

CakkhuDvāra Vīthi – Vipāka NāmaRūpa

1) Because of the arising of  Past Kamma Viññāṇa, CakkhuViññāṇa NāmaRūpa arise.

1) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, CakkhuViññāṇa NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, CakkhuViññāṇa NāmaRūpa is the Effect.

Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, CakkhuViññāṇa NāmaRūpa là Quả.

2) Because of the arising of  Past Kamma Viññāṇa, Sampaṭicchana NāmaRūpa arise.

2) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, Sampaṭicchana NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, Sampatīcchana NāmaRūpa is the Effect.

 Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, Sampaṭicchana NāmaRūpa là Quả.

3) Because of the arising of  Past Kamma Viññāṇa, Santīraṇa NāmaRūpa arise.

3) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, Santīraṇa NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, Santīraṇa NāmaRūpa is the Effect.

Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, Santīraṇa NāmaRūpa là Quả.

4) Because of the arising of  Past Kamma Viññāṇa, Tadārammaṇa NāmaRūpa arise.

4) Bởi sự sanh của Kamma Viññāṇa Quá khứ, Tadārammaṇa NāmaRūpa sanh.

     Past Kamma Viññāṇa is the Cause, Tadārammaṇa NāmaRūpa is the Effect.

Kamma Viññāṇa Quá khứ là Nhân, Tadārammaṇa NāmaRūpa là Quả.

{NOTES:  Discern the arising of SotaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa Vipāka NāmasRūpas……etc base on the same method.  In Vipassanā meditation there is no fault to meditate on Āvajjana, Votthapana, Javana combined together.  Only in the discernment of Cause and Effect that the meditator links the Past Kamma Viññāṇa with Vipāka NāmaRūpa.  Discern all 6 lines.  Discern all Vipāka NāmaRūpa in the whole process of each line.}

(Lưu ý: quán sự sanh của SotaViññāṇa, Sampaṭicchana, Satīraṇa, Tadārammaṇa Vipāka NāmaRūpa… dựa trên cùng phương pháp. Trong thiền Vipassanā không có lỗi gì khi quán Āvajjana, Votthapana, Javana kết hợp với nhau. Chỉ khi quán về Nhân và Quả thì hành giả mới liên kết Kamma Viññāṇa Quá khứ với Vipāka NāmaRūpa. Quán tất cả 6 dòng. Quán tất cả Vipāka NāmaRūpa trong suốt tiến trình của mỗi dòng.)

Saṅkhāra And Kamma Bhava (= Kamma)

Saṅkhāra và Kamma Bhava (=Kamma)

As explained in the Paṭicca Samuppāda 5th Method of discerning Cause and Effect, it is to discern the Cause and Effect after having seen by insight that because of the Nānākkhaṇika Kamma Satti (which is the Kammic force-Kamma Satti-of the Saṅkhāra surrounded by Avijjā, Taṇhā, Upādāna), Vipāka Nāma and Kammaja Rūpa arise.  However as the Kamma Satti is not the object of Vipassanā meditation on the Three Characteristics, one should know the specification of Saṅkhāra and Kamma Bhava (= Kamma) which are the object of Vipassanā:

Như đã giải thích trong Paṭicca Samuppāda phương pháp thứ 5 của quán Nhân và Quả,  việc quán Nhân và Quả sau khi đã thấy bằng minh sát rằng bởi Nānākkhaṇika Kamma Satti (chính là Nghiệp lực – Kamma Satti – của Saṅkhāra bị vây quanh bởi Avijjā, Taṇhā, Upādāna), Vipāka Nāma và Kammaja sanh. Tuy nhiên, vì Kamma Satti không phải là đối tượng của thiền Vipassanā trên Ba Tướng, hành giả cần phải hiểu chỉ riêng Saṅkhāra và Kamma Bhava  (=Kamma) mới chính là đối tượng của Vipassanā:

Āyūhanā Saṅkhārāti taṁ kammaṁ karoto purima cetanāyo, yathā dānaṁ dassāmīti cittaṁ uppādetvā māsampi saṁvaccharampi dānupakaraṇāni sajjentassa uppannā purimacetanāyo.  Paṭiggāhakānaṁ pana hatthe dakkhinaṁ patiṭṭhāpayato cetanā bhavoti vuccati.  Ekāvajjanesu vā chasu javanesu cetanā āyūhanasaṅkhārā nāma, sattamā cetanā bhavo.  Yā kāci vā pana cetanā bhavo.  Taṁsampayuttā āyūhanasaṅkhārā nāma (Abhidhamma Commentary-Vol.II-182, 183   Burmese script)

Āyūhanā Saṅkhārāti taṁ kammaṁ karoto purima cetanāyo, yathā dānaṁ dassāmīti cittaṁ uppādetvā māsampi saṁvaccharampi dānupakaraṇāni sajjentassa uppannā purimacetanāyo.  Paṭiggāhakānaṁ pana hatthe dakkhinaṁ patiṭṭhāpayato cetanā bhavoti vuccati.  Ekāvajjanesu vā chasu javanesu cetanā āyūhanasaṅkhārā nāma, sattamā cetanā bhavo.  Yā kāci vā pana cetanā bhavo.  Taṁsampayuttā āyūhanasaṅkhārā nāma (Abhidhamma Commentary-Vol.II-182, 183   Burmese script)

1) Āyūhanā saṅkhāra are the Cetanā which arise before the accumulation of Kamma is accomplished = Purima Cetanā = Pubba Cetanā.  For example:  After having had the mind to do Dāna it is the Purima Cetanā = Pubba Cetanā which arise in that person who is organizing in a period of one month or one year for things to be offered.  The Patiṭṭhāpaka Cetanā which made the object to be offered to reach the recipient is called Kamma Bhava.

1) Āyūhanā saṅkhāra là Cetanā sanh lên trước khi sự tích tập Kamma được hoàn thành = Purima Cetanā = Pubba Cetanā. Ví dụ: sau khi có ý định Dāna đây chính là Purima Cetanā = Pubba Cetanā sanh lên nơi người đang chuẩn bị trong thời gian một tháng hay một năm những thứ để cúng dường. Patiṭṭhāpaka Cetanā, làm cho vật thí được cúng đến người nhận, được gọi là Kamma Bhava.

2) In another way:  In the many Vīthi mind processes that arise while doing the wholesome or unwholesome action, the Cetanās which accompany the initial 6 Javanas out of the 7 Javana in every Vīthi are called Saṅkhāra.  The Cetanā which accompanies with the 7th Javana is called Kamma Bhava.

2) Theo cách khác: trong rất nhiều tiến trình tâm Vīthi sanh khởi trong khi đang làm hành động thiện hay bất thiện nghiệp, Cetanā nào đồng sanh với 6 Javana đầu trong số 7 Javana ở mỗi Vīthi được gọi là Saṅkhāra. Cetanā đồng sanh với Javana thứ 7 được gọi là Kamma Bhava

3) In another way:  All Citta Cetasika which accompany Kusala\Akusala Cetanā in every Javana mind moment is called Saṅkhāra.  All Kusala & Akusala Cetanā are called Kamma Bhava.

3) Theo cách khác: tất cả Citta Cetasika đồng sanh Kusala\Akusala Cetanā trong mỗi sát-na tâm Javana thì được gọi là Saṅkhāra. Tất cả Kusala & Akusala Cetanā được gọi là Kamma Bhava.

In accordance with the above definition, if one is able to meditate Vipassanā on all Paramattha dhātu in every mind moment of the ManodvāraVīthi Nāma dhamma group where Avijjā-Taṇhā-Upādāna are predominant and of the ManodvāraVīthi Nāma dhamma group which is Saṅkhāra-Kamma, then the Vipassanā meditation on Saṅkhāra and Kamma Bhava is completed.  Therefore, at the Vipassanā stage, meditate Vipassanā on the Three Characteristics of  Saṅkhāra and Kamma Bhava according to the definitions above.  Take note that the force of Kamma mentioned in the Kammapaccaya section which is the Nānākkhaṇika KammaSatti is not the object of Vipassanā.  Take note that only the above mentioned Saṅkhāra and Kamma Bhava, which are the source of that Kamma Satti, are the objects of Vipassanā.

Theo như sự định nghĩa ở trên, nếu hành giả có khả năng quán Vipassanā trên tất cả Paramattha Dhātu trong mỗi sát-na tâm của nhóm ManodvāraVīthi Nāma dhamma là nơi mà Avijjā-Taṇhā-Upādāna nổi trội, và của nhóm ManodvāraVīthi Nāma dhamma mà là Saṅkhāra-Kamma thì thiền Vipassanā trên Saṅkhāra và Kamma Bhava được hoàn tất. Bởi thế, trong giai đoạn Vipassanā, quán Vipassanā trên Ba Tướng của Saṅkhāra và Kamma Bhava theo định nghĩa ở trên. Lưu ý rằng lực của Kamma được đề cập trong phần Kammapaccaya là Nānākkhaṇika KammaSatti thì không phải là đối tượng của Vipassanā. Lưu ý rằng chỉ có Saṅkhāra và Kamma Bhava được đề cập ở trên, chính là nguồn gốc của Kamma Satti đó, là các đối tượng của Vipassanā.

Because Of The Arising Of Sahajāta Viññāṇa, Sahajāta NāmaRūpa Arise

Bởi sự sanh của Sahajāta Viññāṇa, Sahajāta NāmaRūpa sanh.

1) Because of the arising of Paṭisandhi Viññāṇa, Paṭisandhi NāmaRūpa arise.

1) Bởi sự sanh của Paṭisandhi Viññāṇa, Paṭisandhi NāmaRūpa sanh.

     Paṭisandhi Viññāṇa is the Cause, Paṭisandhi NāmaRūpa is the Effect.

Paṭisandhi Viññāṇa là Nhân, Paṭisandhi NāmaRūpa là Quả.

2) Because of the arising of Bhavaṅga Viññāṇa, Bhavaṇga NāmaRūpa arise.

2) Bởi sự sanh của Bhavaṅga Viññāṇa, Bhavaṇga NāmaRūpa sanh.

     Bhavaṅga Viññāṇa is the Cause, Bhavaṅga NāmaRūpa is the Effect.

Bhavaṅga Viññāṇa là Nhân, Bhavaṅga NāmaRūpa là Quả.

{NOTES:  Take only the Cetasika Nāma that accompany the respective Bhavaṅga Viññāṇa in one mind moment as “Nāma”.  Take mainly the Cittaja Rūpa produced by the Bhavaṅga Viññāṇa as “Rūpa”.  However at the Vipassanā stage, there is no fault to meditate Vipassanā also on Kammaja Rūpa, Utuja Rūpa, Āhāraja Rūpa which arise mixed together simultaneously with that Cittaja Rūpa.  As for the discernment of  Cause and Effect, after having seen by insight the Causal Relationship between the respective Viññāṇa and Cittaja Rūpa, discern the Cause and Effect.  The method is the same for Vīthi Cittas.  In Vīthi Citta, Vipāka Viññāṇa means PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa and Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇas only.  Take note that ‘Sahajāta Viññāṇa’ not only refers to Vipāka Viññāṇa but also includes Kiriyā Viññāṇa and Javana Viññāṇa which are Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana, Manodvārāvajjana, Javana.  According to the Suttanta Desana method, the Paṭicca Samuppāda factors Viññāṇa-NāmaRūpa-Saḷāyatana-Phassa-Vedanā are Vipāka Dhamma only.  However among these Vipāka dhamma:  without Pañcadvārāvajjana then PañcaViññāṇa, Sampatīcchana, Santīraṇa cannot arise; and without Javana then Tadārammaṇa cannot arise (Mahā Ṭīka sub-Commentary-Vol. II-323, Burmese script).  Therefore, with the purpose that no Paramattha Dhātu are left out, when discerning the Cause and Effect there is no fault if discern combined with  Pañcadvārāvajjana-Votthapana-Javana-Manodvārāvajjana-Javana also.  If the meditator understands that they are not included in Vipāka Vaṭṭa then there is no fault.  [These two preceding sentences explain the asterisk * below].  It is debatable among the Books as to whether Cuti can produce Cittaja Rūpa or not.}

{Lưu ý: chỉ lấy Cetasika Nāma đồng sanh với Bhavaṅga Viññāṇa trong một sát-na tâm là “Nāma”. Lấy chủ yếu Cittaja Rūpa sanh bởi Bhavaṅga Viññāṇa là “Rūpa”. Dù vậy ở giai đoạn Vipassanā, không có lỗi gì nếu quán Vipassanā cả trên Kammaja Rūpa, Utuja Rūpa, Āhāraja Rūpa vốn sanh lẫn lộn cùng với Cittaja Rūpa đó. Đối với phép quán Nhân và Quả, sau khi thấy bằng minh sát mối quán hệ Nhân Quả giữa Viññāṇa và Cittaja Rūpa tương ứng, thì thấy rõ Nhân và Quả. Kỹ thuật này cũng tương tự cho Vīthi Citta. Trong Vīthi Citta, Vipāka Viññāṇa có nghĩa chỉ là những PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa và Tadārammaṇa Vipāka Viññāṇa mà thôi. Lưu ý rằng ‘Sahajāta Viññāṇa’ không chỉ riêng Vipāka Viññāṇa mà cũng bao gồm Kiriyā Viññāṇa và Javana Viññāṇa chính là Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana, Manodvārāvajjana, Javana. Theo phương pháp Suttanta Desana, những chi Paṭicca Samuppāda là Viññāṇa – NāmaRūpa – Saḷāyatana – Phassa – Vedanā chỉ là Vipāka Dhamma. Dù vậy trong những Vipāka dhamma: không có Pañcadvārāvajjana thì PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa không thể sanh; và không có Javana thì Tadārammaṇa không thể sanh (Mahā Ṭīka sub-Commentary-Vol. II-323, Burmese script). Bởi vậy với mục đích rằng không để Paramattha Dhātu nào bị bỏ sót, khi quán Nhân và Quả không có lỗi gì khi quán luôn cả Pañcadvārāvajjana – Votthapana – Javana – Manodvārāvajjana – Javana. Nếu hành giả hiểu được rằng chúng không được bao gồm trong Vipāka Vaṭṭa thì không có lỗi. [hai câu trước giải nghĩa cho dấu sao * bên dưới.] Ở đây có tranh cãi giữa các Sách như là Cuti có thể tạo Cittaja Rūpa hay không.}

3) Because of the arising of Cuti Viññāṇa, Cuti Nāma(+Rūpa) arises.

3) Bởi sự sanh của Cuti Viññāṇa, Cuti Nāma (+Rūpa) sanh.

     Cuti Viññāṇa is the Cause, Cuti Nāma(+Rūpa) is the Effect.

Cuti Viññāṇa là Nhân, Cuti Nāma (+Rūpa) là Quả.

* {Because of the arising of Pañcadvārāvajjana Viññāṇa, Pañcadvārāvajjana Nāma+Rūpa arise.

* Bởi sự sanh của Pañcadvārāvajjana Viññāṇa, Pañcadvārāvajjana Nāma + Rūpa sanh

     Pañcadvārāvajjana Viññāṇa is the Cause, Pañcadvārāvajjana Nāma+Rūpa is the Effect.}

Pañcadvārāvajjna Viññāṇa là Nhân, Pañcadvārāvajjana Nāma + Rūpa là quả

4) Because of the arising of CakkhuViññāṇa, CakkhuViññāṇa Nāma arises.

4) Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa, CakkhuViññāṇa Nāma sanh.

     CakkhuViññāṇa is the Cause, CakkhuViññāṇa Nāma is the Effect.

CakkhuViññāṇa là Nhân, CakkhuViññāṇa Nāma là Quả.

     (Nāma = the 7 accompanying Cetasika)

 (Nāma = 7 Tâm sở Cetasika đồng sanh)

Or in another way:

Hay nói cách khác:

     Because of the arising of CakkhuViññāṇa, CakkhuViññāṇa Nāma+Rūpa arise.

Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa, CakkhuViññaṇa Nāma + Rūpa sanh.

     CakkhuViññāṇa is the Cause, CakkhuViññāṇa Nāma+Rūpa is the Effect.

CakkhuViññāṇa là Nhân, CakkhuViññāṇa Nāma + Rūpa là Quả.

{NOTES:  Discern SotaViññāṇa, Ghāna Viññāṇa, Jivhā Viññāṇa, Kāya Viññāṇa in the same way.  “Nāma” is the 7 accompanying Cetasika.  As PañcaViññāṇas such as Cakkhu Viññāṇa cannot produce Cittaja Rūpa, take mainly the Kammaja Rūpa that arise during the occurrence of PañcaViññāṇa such as CakkhuViññāṇa indirectly.  Discern, taking the Kammaja Rūpa as object.  At Vipassanā stage, there is no fault if meditate Vipassanā on them combining together with the Kammaja Rūpa, Utuja Rūpa, Āhāraja Rūpa which are at the arising phase (uppāda) at that moment and the Cittaja Rūpa which are at the static phase (Ṭhīti) produced by the preceding mind.  Take note that the method is the same in every cases.}

{Lưu ý: quán SotaViññāṇa, Ghāna Viññāṇa, Jivhā Viññāṇa, Kāya Viññāṇa theo cùng cách. “Nāma” là 7 Cetasika đồng sanh. Do PañcaViññāṇa như Cakkhu Viññāṇa không thể tạo nên Cittaja Rūpa, lấy chủ yếu Kammaja Rūpa đang sanh lên trong lúc có mặt của PañcaViññāṇa như là CakkhuViññāṇa 1 cách gián tiếp. Quán, lấy KammajaRūpa là đối tượng. Ở giai đoạn Vipassanā, không có lỗi gì khi quán Vipassanā trên chúng bao gồm với Kammaja Rūpa, Utuja Rūpa, Ahāraja Rūpa tức những sắc ở vào giai đoạn sanh (uppāda) của sát-na cùng lúc đó và Cittaja Rūpa là sắc ở giai đoạn trụ (Ṭhīti) được sanh bởi tâm trước đó. Lưu ý rằng phương pháp này thì giống nhau cho các trường hợp khác.}

5) Because of the arising of Sampaṭicchana Viññāṇa, Sampaṭicchana Nāma+Rūpa arise.

5) Bởi sự sanh của Sampaṭicchana Viññāṇa, Sampaṭicchana Nāma + Rūpa sanh

     Sampaṭicchana Viññāṇa is the Cause, Sampaṭicchana Nāma+Rūpa is the Effect.

Sampaṭicchana Viññāṇa là Nhân, Sampaṭicchana Nāma + Rūpa là Quả.

{NOTES:  “Nāma” is the 10 Cetasika that accompany Sampaṭicchana Citta.  “Rūpa” is the Cittaja Rūpa produced by Sampaṭicchana Citta.  When one reaches the Vipassanā stage there is no fault to meditate Vipassanā also on the Kammaja, Utuja, Āhāraja Rūpa that arise during the 3 moment( = Khaṇattaya) of that Sampaṭicchana.  In the subsequent Vīthi Citta such as Santīraṇa, take the accompanying Cetasika accordingly as “Nāma”.  As for “Rūpa”, it is similar as above.}

{Lưu ý: “Nāma” là 10 Cetasika đồng sanh trong Sampaṭicchana Citta. “Rūpa” là Cittaja Rūpa tạo nên bởi Sampaṭicchana Citta. Khi một người đạt đến giai đoạn Vipassanā thì không có lỗi gì khi cũng quán Vipassanā trên Kammaja, Utuja, Āhāraja Rūpa khởi sanh trong 3 sát-na (= Khaṇattaya) của Sampaṭicchana đó. Trong phần sau của Vīthi Citta như Santīraṇa, xem những Cetasika đồng sanh khi ấy là “Nāma”. Về phần “Rūpa”, tương tự như ở trên.}

6) Because of the arising of Santīraṇa Viññāṇa, Santīraṇa Nāma+Rūpa arise.

6) Bởi sự sanh của Santīraṇa Viññāṇa, Santīraṇa Nāma + Rūpa sanh.

     Santīraṇa Viññāṇa is the Cause, Santīraṇa Nāma+Rūpa is the Effect.

Santīraṇa Viññāṇa là Nhân, Santīraṇa Nāma + Rūpa là Quả.

* {Because of the arising of Votthapana Viññāṇa, Votthapana Nāma+Rūpa arise.

* {bởi sự sanh của Votthapana Viññāṇa, Votthapana Nāma + Rūpa sanh.

     Votthapana Viññāṇa is the Cause, Votthapana Nāma+Rūpa is the Effect.}

Votthapana Viññāṇa là Nhân, Votthapana Nāma + Rūpa là Quả. }

* {Because of the arising of Javana Viññāṇa, Javana Nāma+Rūpa arise.

* {bởi sự sanh của Javana Viññāṇa, Javana Nāma + Rūpa sanh.

     Javana Viññāṇa is the Cause, Javana Nāma+Rūpa is the Effect.}

Javana Viññāṇa là Nhân, Javana Nāma + Rūpa là Quả. }

7) Because of the arising of Tadārammaṇa Viññāṇa, Tadārammaṇa Nāma+Rūpa arise.

Bởi sự sanh của Tadārammaṇa Viññāṇa, Tadārammaṇa Nāma + Rūpa sanh.

     Tadārammaṇa Viññāṇa is the Cause, Tadārammaṇa Nāma+Rūpa is the Effect.

Tadārammaṇa Viññāṇa là Nhân, Tadārammaṇa Nāma + Rūpa là Quả.

* {Because of the arising of Manodvārāvajjana Viññāṇa, Manodvārāvajjana Nāma+Rūpa arise.

* {Bởi sự sanh của Manodvārāvajjana Viññāṇa, Manodvārāvajjana Nāma + Rūpa sanh.

     Manodvārāvajjana Viññāṇa is the Cause, Manodvārāvajjana Nāma+Rūpa is the Effect.}

Manodvārāvajjana Viññāṇa là Nhân, Manodvārāvajjana Nāma + Rūpa là Quả.}

Understand that the method is the same for both Javana-Tadārammaṇa.  Discern every mind moment (Cittakkhaṇa) as shown in the Nāma Kammaṭṭhāna tables.  Concerning these discernments, the references from the Text are as follows:

Cần hiểu rằng phương pháp này tương tự cho Javana – Tadārammaṇa. Quán tất cả sát-na tâm (Cittakkhaṇa) như đã trình bày trong bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Liên hệ đến các phép quán này là các tham khảo từ Kinh điển như sau:

NāmaRūpassa yaṁ hetu, viññāṇaṁ taṁ dvidhā mataṁ

NāmaRūpassa yaṁ hetu, viññāṇaṁ taṁ dvidhā mataṁ

Vipākamavipākañca, yuttameva yato idaṁ.    (Abhidhamma Commentary-Vol.II-163, Burmese script)

Vipākamavipākañca, yuttameva yato idaṁ.    (Abhidhamma Commentary-Vol.II-163, Burmese script)

Sahajātaviññāṇa paccayā nāmarūpaṁ, kammaviññāṇa paccayā ca nāmarūpañca yathāsambhavam yojetabbaṁ.   (MūlaṬīka-Vol. II-115, Burmese script)

Sahajātaviññāṇa paccayā nāmarūpaṁ, kammaviññāṇa paccayā ca nāmarūpañca yathāsambhavam yojetabbaṁ.   (MūlaṬīka-Vol. II-115, Burmese script)

Kammaviññāṇappaccayā vipākacittappavattikāle vipāka nāmassa, kammasamuṭṭhāna rūpassa ca vasena.  SahajātaViññāṇa paccayā pana itaracittappavatti kālepi vipāko vipāka nāmavasena, cittasamuṭṭhāna rūpavasena ca nāmarūpassa sambhavo dassetabboti āha “Sahajāta……yojetabba”nti. (Anuṭīka-Vol.II-128)

Kammaviññāṇappaccayā vipākacittappavattikāle vipāka nāmassa, kammasamuṭṭhāna rūpassa ca vasena.  SahajātaViññāṇa paccayā pana itaracittappavatti kālepi vipāko vipāka nāmavasena, cittasamuṭṭhāna rūpavasena ca nāmarūpassa sambhavo dassetabboti āha “Sahajāta……yojetabba”nti. (Anuṭīka-Vol.II-128)

NĀMARŪPAPACCAYĀ SAḶĀYATANAṂ

NĀMARŪPAPACCAYĀ SAḶĀYATANAṀ

(Because of the arising of NāmaRūpa, Saḷāyatana arises)

(Bởi sự sanh của  NāmaRūpa, Saḷāyatana sanh)

In this stage there are 5 parts of discernment:

Ở giai đoạn này, phép quán có 5 phần:

A) Because of the arising of Nāma, Manāyatana arises.

A) Bởi sự sanh của Nāma, Manāyatana sanh.

B) Because of the arising of Nāma, Āyatana Rūpa arises.

B) Bởi sự sanh của Nāma, Āyatana Rūpa sanh.

C) Because of the arising of Rūpa, Āyatana Rūpa arises.

C) Bởi sự sanh của Rūpa, Āyatana Rūpa sanh.

D) Because of the arising of Rūpa, Manāyatana arises.

D) Bởi sự sanh của Rūpa, Manāyatana sanh.

E) Because of the arising of Nāma+Rūpa, Manāyatana arises.

E) Bởi sự sanh của Nāma + Rūpa, Manāyatana sanh.

A) Nāma Supports Manāyatana

A) Nāma hỗ trợ Manāyatana

(Because of the arising of Nāma, Manāyatana arises)

(Bởi sự sanh của Nāma, Manāyatana sanh.)

In this stage take only the Cetasika which accompany the respective Manāyatana as “Nāma” accordingly.  “Manāyatana” means the consciousness Viññāṇa which arise together with the respective Cetasika.  This is the stage of discerning that Cetasika Nāma support the Citta (=Manāyatana) which accompanies with them.

Trong giai đoạn này chỉ lấy Cetasika đồng sanh trong chính Manāyatana như “Nāma”. Manāyatana là thức Viññāṇa sanh cùng với chính các Cetasika đó. Đây là giai đoạn quán rằng Cetasika Nāma hỗ trợ Citta (=Manāyatana) mà đồng sanh với chúng.

1) Because of the arising of Paṭisandhi Nāma dhamma (=33), Paṭisandhi Manāyatana arises.

1)  Bởi sự sanh của Paṭisandhi Nāma dhamma (=33), Paṭisandhi Manāyatana sanh.

     Paṭisandhi Nāma dhamma (=33) is the Cause, Paṭisandhi Manāyatana is the Effect.

Paṭisandhi Nāma dhamma (=33) là Nhân, Paṭisandhi Manāyatana là Quả.

2) Because of the arising of Bhavaṅga Nāma dhamma (=33), Bhavaṅga Manāyatana arises.

2)  Bởi sự sanh của Bhavaṅga Nāma dhamma (=33), Bhavaṅga Manāyatana sanh.

     Bhavaṅga Nāma dhamma(=33) is the Cause, Bhavaṅga Manāyatana is the Effect.

Bhavaṅga Nāma dhamma (=33) là Nhân, Bhavaṅga Manāyatana  là Quả.

3) Because of the arising of Cuti Nāma dhamma(=33), Cuti Manāyatana arises.

3)  Bởi sự sanh của Cuti Nāma dhamma (=33), Cuti Manāyatana sanh.

     Cuti Nāma dhamma(=33) is the Cause, Cuti Manāyatana is the Effect.

Cuti Nāma dhamma (=33) là Nhân, Cuti Manāyatana  là Quả.

     (In this case the Tihetuka Somanassa Paṭisandhi-Bhavaṅga-Cuti are shown as an example)

(Trong trường hợp này Tihetuka Somanassa Paṭisandhi – Bhavaṅga – Cuti được trình bày làm ví dụ)

* Because of the arising of Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma(=10), Pañcadvārāvajjana Manāyatana arises.

Bởi sự sanh của Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma (=10), Pañcadvārāvajjana Manāyatana sanh.

     Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma(=10) is the Cause, Pañcadvārāvajjana Manāyatana is the Effect.

Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma (=10) là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manāyatana là Quả.

4) Because of the arising of CakkhuViññāṇa Nāma dhamma(=7), CakkhuViññāṇa Manāyatana arises.

4)  Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa Nāma dhamma (=7), CakkhuViññāṇa Manāyatana sanh.

     CakkhuViññāṇa Nāma dhamma(=7) is the Cause, CakkhuViññāṇa Manāyatana is the Effect.

CakkhuViññāṇa Nāma dhamma (=7) là Nhân, CakkhuViññāṇa Manāyatana là Quả.

5) Because of the arising of Sampaṭicchana Nāma dhamma(=10), Sampaṭicchana Manāyatana arises.

5) Bởi sự sanh của Sampaṭicchana Nāma dhamma (=10), Sampaṭicchana Manāyatana sanh.

     Sampaṭicchana Nāma dhamma(=10) is the Cause, Sampaṭicchana Manāyatana is the Effect.

Sampaṭicchana Nāma dhamma (=10) là Nhân, Sampaṭicchana Manāyatana là Quả.

6) Because of the arising of Santīraṇa Nāma dhamma(=11), Santīraṇa Manāyatana arises.

6) Bởi sự sanh của Santīraṇa Nāma dhamma (=11), Santīraṇa Manāyatana sanh.

     Santīraṇa Nāma dhamma(=11) is the Cause, Santīraṇa Manāyatana is the Effect.

Santīraṇa Nāma dhamma (=11) là Nhân, Santīraṇa Manāyatana là Quả.

* Because of the arising of Votthapana Nāma dhamma(=11), Votthapana Manāyatana arises.

* Bởi sự sanh của Votthapana Nāma dhamma (=11), Votthapana Manāyatana sanh.

     Votthapana Nāma dhamma(=11) is the Cause, Votthapana Manāyatana is the Effect.

Votthapana Nāma dhamma (=11) là Nhân, Votthapana Manāyatana là Quả.

* Because of the arising of Javana Nāma dhamma(=  ), Javana Manāyatana arises.

* Bởi sự sanh của Javana Nāma dhamma (=), Javana Manāyatana sanh.

     Javana Nāma dhamma(=  ) is the Cause, Javana Manāyatana is the Effect.

Javana Nāma dhamma (=) là Nhân, Javana Manāyatana là Quả.

7) Because of the arising of Tadārammaṇa Nāma dhamma(=  ), Tadārammaṇa Manāyatana arises.

7) Bởi sự sanh của Tadārammaṇa  Nāma dhamma (=), Tadārammaṇa Manāyatana sanh.

     Tadārammaṇa Nāma dhamma(=  ) is the Cause, Tadārammaṇa Manāyatana is the Effect.

Tadārammaṇa  Nāma dhamma (= ) là Nhân, Tadārammaṇa Manāyatana là Quả.

* Because of the arising of Manodvārāvajjana Nāma dhamma(=11), Manodvārāvajjana Manāyatana arises.

* Bởi sự sanh của Manodvārāvajjana Nāma dhamma (=11), Manodvārāvajjana Manāyatana sanh.

     Manodvārāvajjana Nāma dhamma(=11) is the Cause, Manodvārāvajjana is the Effect.

Manodvārāvajjana Nāma dhamma (=11) là Nhân, Manodvārāvajjana Manāyatana là Quả.

{NOTES:  Discern the accompanying Cetasika = “Nāma” in Santīraṇa, Javana and Tadārammaṇa accordingly, as shown in the Tables of Nāma Kammaṭṭhāna.  Discern the Wholesome and Unwholesome groups of Kusala Javana and Akusala Javana respectively.  As Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana and Manodvārāvajjana are not part of Vipāka Vaṭṭa, they can be left out; but, with the purpose of not leaving out any Paramattha Dhātu, there is no fault if one discerns them also (Refer to asterisk * above).  If the meditator understands that they are not part of Vipāka Vaṭṭa then it is not wrong.  Discern Sotadvāra Vīthi,…. etc base on the same method.  The Nāma = Cetasika in Pañcavokāra realm can support Manāyatana = Citta only if they have a ‘companion’, which is the respective Basis Vatthu Rūpa such as Hadaya Vatthu.}

(Lưu ý: quán các Cetasika đồng sanh = “Nāma” trong Santīraṇa, Javana và Tadārammaṇa, như đã trình bày trong Bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Tuần tự quán nhóm Thiện và Bất Thiện của Kusala Javana và Akusala Javana tương ứng. Vì Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana và Manodvārāvajjana không thuộc về Vipāka Vaṭṭa, nên có thể để chúng sang một bên; nhưng với mục đích không bỏ qua bất cứ một Paramattha Dhātu nào, nên không có lỗi gì nếu cũng quán chúng (liên hệ đến * ở trên). Nếu hành giả hiểu được rằng chúng không thuộc Vipāka Vaṭṭa thì không sai. Quán Sotadvāra Vīthi,… dựa trên cùng phương pháp. Nāma = Cetasika trong cõi Pañcavokāra có thể hỗ trợ Manāyatana = Citta chỉ khi chúng có ‘đồng hành’, chính là sắc căn Vatthu Rūpa tương ứng như là Hadaya Vatthu.)

B) Because Of The Arising Of Nāma, Āyatanarūpa Arises

B) Bởi sự sanh của Nāma, Āyatanarūpa sanh.

Pacchājātā citta cetasikā dhammā purejātassa imassa kāyassa pacchājāta paccayena paccayo = Except the 4 Arūpa Vipāka, any of the Citta Cetasika Nāma group of 85 Citta 52 Cetasika which arise subsequently support the CatuSamuṭṭhānika Rūpa Kāya which has arisen at the preceding mind moment. (Paṭṭhāna-Vol.I-7).

Pacchājātā citta cetasikā dhammā purejātassa imassa kāyassa pacchājāta paccayena paccayo = ngoài trừ 4 Arūpa Vipāka, tất cả nhóm Citta Cetasika Nāma thuộc 85 Citta, 52 Cetasika sanh kế tiếp đó hỗ trợ cho CatuSamuṭṭhānika Rūpa Kāya đã sanh vào sát-na tâm trước đó. (Paṭṭhāna-Vol.I-7).

In accordance with the above Teaching, concerning about CittaCetasika=Nāma dhamma supports Āyatana Rūpa, understand that the Effect Rūpa arises first and the Cause Nāma dhamma arises later.  The Effect Rūpa arises together with the preceding mind moment Cittakkhaṇa (this is mostly so, except at the moment of Patisandhi).  The Cause Nāma dhamma group is the subsequent mind moment Nāma dhamma group.  Therefore, firstly take note of the following brief points:

Theo Lời dạy trên, liên hệ đến CittaCetasika = Nāma dhamma hỗ trợ Āyatana Rūpa, cần hiểu rằng Quả Rūpa sanh trước và Nhân Nāma dhamma sanh sau đó. Quả Rūpa sanh cùng với sát-na tâm (Cittakkhaṇa) trước đó (hầu hết là như vậy, ngoại trừ vào lúc Paṭisandhi). Nhóm Nhân Nāma dhamma là nhóm Nāma dhamma  sanh ở sát-na tâm sau đó. Như vậy, trước tiên cần lưu ý một vài điểm tóm tắt:

1) The Ekaja Kāya i.e. the Kammaja (or in another way, the DvijaKāya i.e. Kammaja Rūpa & Utuja Rūpa) –having arose together with Paṭisandhi Nāmakkhandhā– which reaches the static\duration stage (Ṭhīti) of Rūpa is supported by the 1st Bhavaṅga Nāmakkhandhā Paccayadhamma by means of Pacchājāta Paccaya Satti.

1) Ekaja Kāya tức là Kammaja (hay cách khác, DvijaKāya tức là Kammaja Rūpa & Utuja Rūpa) – sau khi đã sanh lên cùng với Paṭisandhi Nāmakkhandhā – lúc đã đạt đến giai đoạn Trụ (Ṭhīti) của Rūpa thì lại được hỗ trợ bởi Bhavaṅga Nāmakkhandhā Paccayadhamma thứ 1 bằng Pacchājāta Paccaya Satti.

2) The TijaKāya i.e. the Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa & Utuja Rūpa –having arose together with the preceding Bhavaṅga Nāmakkhandhā such as the 1st Bhavaṅga– which reaches the static stage of Rūpa is supported by the subsequent Bhavaṅga Nāmakkhandhā Paccayadhamma by means of Pacchājāta Paccaya Satti.

2) TijaKāya tức là Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa & Utuja Rūpa – sau khi đã sanh lên cùng với Bhavaṅga Nāmakkhandhā trước đó như là Bhavaṅga thứ 1 – lúc đạt đến giai đoạn trụ của Rūpa lại được hỗ trợ bởi Bhavaṅga Nāmakkhandhā Paccayadhamma  sanh sau đó bằng Pacchājāta Paccaya Satti.

3) The CatujaKāya i.e. the Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa –having arose together with the preceding mind at the arising Uppāda moment of Āhāraja Rūpa– which reaches the static stage of Rūpa is supported by the subsequent CittaCetasika Nāmakkhandhā Paccayadhamma by means of Pacchājāta Paccaya Satti.

3) CatujaKāya tức là Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa – sau khi đã sanh lên cùng với tâm trước đó vào tiểu sát-na sanh Uppāda của Āhāraja Rūpa – cái đạt đến giai đoạn trụ của Rūpa lại được hỗ trợ bởi Citta Cetasika Nāmakkhandhā sau đó bằng Pacchājāta Paccaya Satti.

4) The Catuja Kāya i.e. the Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa –having arose together with the 15th Bhavaṇga Citta counting from Paṭisandhi in Kāmāvacara beings– which reaches the static stage of Rūpa is supported by the subsequent Āvajjana Nāmakkhandhā Paccayadhamma by means of Pacchājāta Paccaya Satti.  (For Rūpāvacara being, the Tijakāya i.e Kammaja, Cittaja & Utuja Rūpa is supported by the subsequent Āvajjana Nāmakkhandhā by means of Pacchājāta Paccaya Satti).

4) CatujaKāya tức là Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa – đã sanh lên cùng với Bhavaṅga Citta  thứ 15 tính từ Paṭisandhi nơi chúng sanh thuộc Kāmāvacara – lúc đạt đến giai đoạn trụ của Rūpa lại được hỗ trợ bởi Avajjana Nāmakkhandhā Paccayadhamma sanh sau đó bằng Pacchājāta Paccaya Satti. (Đối với chúng sanh Rūpāvacara, Tijakāya tức Kammaja, Cittaja & Utuja Rūpa được hỗ trợ bởi Āvajjana Nāmakkhandhā sanh sau bằng Pacchājāta Paccaya Satti.)

5) The Catuja Kāya (TijaKāya), having arose together with Pañcadvārāvajjana, which reaches the static stage of Rūpa is supported by the subsequent PañcaViññāṇa Nāmakkhandhā Paccayadhamma by means of Pacchājāta Paccaya Satti.

5) Catuja Kāya (TijaKāya), sau khi đã sanh lên cùng với Pañcadvārāvajjana, lúc đạt đến giai đoạn trụ của Rūpa lại được hỗ trợ bởi PañcaViññāṇa Nāmakkhandhā Paccayadhamma sau đó bằng Pacchājāta Paccaya Satti.

6) The TijaKāya i.e. Kammaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa in Kāmāvacara realm (or the DvijaKāya i.e. Kammaja Rūpa & Utuja Rūpa in Rūpāvacara realm) –having arose together with PañcaViññāṇa– which reaches the static stage of Rūpa is supported by the subsequent Sampaṭicchana Nāmakkhandhā Paccayadhamma group by means of Pacchājāta Paccaya Satti.

6) TijaKāya tức là  Kammaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa trong cõi Kāmāvacara (hay DvijaKāya là Kammja Rūpa & Utuja Rūpa trong cõi Rūpavacara) – sanh lên cùng với PañcaViññāṇa – lúc đạt đến giai đoạn trụ của Rūpa thì lại được hỗ trợ bởi nhóm Sampaṭicchana Nāmakkhandhā Paccayadhamma sau bằng Pacchājāta Paccaya Satti.

7) The Catuja Kāya i.e. the Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa in Kāmāvacara realm (or the Tija Kāya i.e. the Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa in Rūpāvacara realm) –having arose together with Sampaṭicchana Nāmakkhandhā– which reaches the static stage of Rūpa is supported by the subsequent Santīraṇa Nāmakkhandhā Paccayadhamma by means of Pacchājāta Paccaya Satti.

7) Catuja Kāya tức là Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa & Āhāraja Rūpa trong cõi Kāmāvacara (hay TijaKāya tức Kammaja Rūpa, Cittaja Rūpa, Utuja Rūpa trong cõi Rūpāvacara.) – đã sanh lên cùng với Sampaṭicchana Nāmakkhandā – lúc đạt đến giai đoạn trụ của Rūpa lại được hỗ trợ bởi nhóm Santīraṇa Nāmakkhandhā Paccayadhamma bằng Pacchājāta Paccaya Satti.

(Based on the above methods, realize that the subsequent CittaCetasika = Nāmakkhandhā dhamma group support the Catuja Rūpa which arose together with the preceding mind.)

(Dựa trên cùng phương pháp, nhận biết rằng Citta Cetasika sanh sau = nhóm Nāmakkhandhā dhamma hỗ trợ Catuja Rūpa là sắc sanh lên cùng với tâm trước đó.)

In this stage where “Because of the arising of Nāma, Āyatana Rūpa arises” is shown, take both the corresponding Citta+Cetasika of the subsequent mind moment as Cause.  Take the Cakkhāyatana, Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana which reach the static stage after having arose simultaneously with the preceding mind moment as “Āyatana Rūpa” on the side of Effect.  All the 5 types of Āyatana Rūpa has the power to arise in every arising phase-static phase-perishing phase of every mind moment as long as the force of Kamma is not exhausted yet.  However, to be not complicated it can be discerned separately; or else it can be discerned together.  The method of discerning separately is shown as follows:

Trong giai đoạn này nơi mà “Bởi sự sanh của Nāma, Āyatana Rūpa sanh” được trình bày, lấy hai Citta + Cetasika đồng sanh của sát-na tâm sau là Nhân. Xem Cakkhāyatana, Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana là những cái đã đạt đến giai đoạn trụ sau khi sanh cùng lúc với sát-na tâm trước đó là “Āyatana Rūpa” về phần của Quả. Tất cả 5 loại Āyatana Rūpa đều có năng lực sanh lên trong mỗi giai đoạn sanh – trụ – diệt của sát-na tâm cho đến khi Nghiệp lực Kamma chưa bị cạn kiệt. Tuy nhiên, vì không phức tạp nên nó có thể được quán tách biệt; hay có thể quán cùng với nhau. Phương pháp quán tách biệt được trình bày sau đây:

1) Because of the arising of Bhavaṅga Calana Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

1) Bởi sự sanh của Bhavaṅga Calana Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh.

     Bhavaṅga Calana Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Bhavaṅga Calana Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with AtītaBhavaṇga)

(Đây là Cakkhāyatana sanh lên cùng lúc với AtītaBhavaṅga)

2) Because of the arising of Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

2) Bởi sự sanh của Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh

     Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with Bhavaṅga Calana)

Đây là Cakkhāyatana sanh lên cùng lúc với Bhavaṅga Calana.)

3) Because of the arising of Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

3) Bởi sự sanh của Pañcadvāvājjana Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh.

     Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Pañcadvāvājjana Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with Bhavaṅgupaccheda)

(Đây là Cakkhāyatana sanh cùng lúc với Bhavaṅgupaccheda)

4) Because of the arising of CakkhuViññāṇa Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

4) Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh.

     CakkhuViññāṇa Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

CakkhuViññāṇa Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with Pañcadvārāvajjana.

(Đây là Cakkhāyatana sanh lên cùng lúc với Pañcadvārāvajjana.

      Discern SotaViññāṇa….etc with the same method.)

Quán SotaViññāṇa,… với cùng phương pháp)

5) Because of the arising of Sampaṭicchana Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

5) Bởi sự sanh của Sampaṭicchana Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh.

     Sampaṭicchana Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Sampaṭicchana Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with CakkhuViññāṇa)

(Đây là Cakkhāyatana sanh cùng lúc với CakkhuViññāṇa.)

6) Because of the arising of Santīraṇa Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

6) Bởi sự sanh của Santīraṇa Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh.

     Santīraṇa Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Santīraṇa Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with Sampaṭicchana)

(Đây là Cakkhāyatana sanh lên cùng lúc với Sampaṭicchana)

7) Because of the arising of Votthapana Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

7) Bởi sự sanh của Votthapana Nāma dhamma, Cakkhāyatana sanh.

     Votthapana Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Votthapana Nāma dhamma là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with Santīraṇa)

(Đây là Cakkāyatana sanh cùng lúc với Santīraṇa)

8) Because of the arising of 1st Javana Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

8) Bởi sự sanh của Javana Nāma dhamma thứ I, Cakkhāyatana sanh.

     1st Javana Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Javana Nāma dhamma thứ I là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with Votthapana)

(Đây là Cakkhāyatana sanh cùng lúc với Votthapana)

9) Because of the arising of 2nd Javana Nāma dhamma, Cakkhāyatana arises.

9) Bởi sự sanh của Javana Nāma dhamma thứ II, Cakkhāyatana sanh.

     2nd Javana Nāma dhamma is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Javana Nāma dhamma thứ II là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

     (This is the Cakkhāyatana which arises simultaneously with 1st Javana)

(Đây là Cakkhāyatana sanh cùng lúc với Javana thứ I)

Realize thus that the subsequent Citta Cetasika Nāma dhamma group support the Cakkhāyatana which arose together with the preceding mind.  Based on this method, discern according to the Nāma Kammaṭṭhāna Tables in every mind moment of all 6 types of Vīthi such as Cakkhudvāra Vīthi.  Discern similarly for Sotāyatana….etc.  If the meditator wants to discern them as a whole then discern all 5 Āyatana Rūpa such as Cakkhāyatana as follows:

Nhận biết rằng nhóm Citta Cetasika Nāma dhamma sau hỗ trợ cho Cakkhāyatana là cái sanh ở sát-na tâm trước đó. Dựa theo phương pháp này, quán theo Bảng Nāma Kammaṭṭhāna trong tất cả sát-na tâm của tất cả 6 loại Vīthi như là Cakkhudvāra Vīthi. Quán tương tự cho Sotāyatana… Nếu hành giả muốn quán chúng như một tổng thể thì quán tất cả 5 Āyatana Rūpa như là Cakkhāyatana như sau đây:

Another Way: Discernment As A Whole

Cách khác: Quán Là Một Tổng thể

1) Because of the arising of Bhavaṅga Calana Nāma dhamma, the 5 Āyatana Rūpa arise.

1) Bởi sự sanh của Bhavaṅga Calana Nāma dhamma, 5 Āyatana Rūpa sanh.

     Bhavaṅga Calana Nāma dhamma is the Cause, the 5 Āyatana Rūpa are the Effect.

Bhavaṅga Calana Nāma dhamma là Nhân, 5 Āyatana Rūpa là Quả.

     (These are the Cakkhāyatana, Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana which arise simultaneously with AtītaBhavaṇga)

(Chúng là Cakkhāyatana, Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana sanh lên cùng lúc với AtītaBhavaṅga)

2) Because of the arising of Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma, the 5 Āyatana Rūpa arise.

2) Bởi sự sanh của Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma, 5 Āyatana Rūpa sanh.

     Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma is the Cause, the 5 Āyatana Rūpa are the Effect.

Bhavaṅgupaccheda Nāma dhamma là Nhân, 5 Āyatana Rūpa là Quả.

     (These are the 5 Āyatana Rūpa which arise simultaneously with Bhavaṅga Calana)

(Chúng là 5 Āyatana Rūpa sanh cùng lúc với Bhavaṅga Calana.)

3) Because of the arising of Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma, the 5 Āyatana Rūpa arise.

3) Bởi sự sanh của Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma, 5 Āyatana Rūpa sanh.

     Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma is the Cause, the 5 Āyatana Rūpa are the Effect.

Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma là Nhân, 5 Āyatana Rūpa là Quả.

     (These are the 5 Āyatana Rūpa which arise simultaneously with Bhavaṅgupaccheda)

(Chúng là 5 Āyatana Rūpa sanh lên cùng lúc với Bhavaṅgupaccheda.)

4) Because of the arising of CakkhuViññāṇa Nāma dhamma, the 5 Āyatana Rūpa arise.

4) Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa Nāma dhamma, 5 Āyatana Rūpa sanh.

     CakkhuViññāṇa Nāma dhamma is the Cause, the 5 Āyatana Rūpa are the Effect.

CakkhuViññāṇa Nāma dhamma là Nhân, 5 Āyatana Rūpa là Quả.

     (These are the 5 Āyatana Rūpa which arise simultaneously with Pañcadvārāvajjana.)

(Chúng là 5 Āyatana Rūpa sanh cùng lúc với Pañcadvārāvajjana.)

Realize in this way that the subsequent Citta Cetasika=Nāma dhamma support the 5 Āyatana Rūpa which arose with the preceding mind moment by means of Pacchājāta Paccaya Satti.  Discern all 6 dvāra totally.

Biết rằng trong cách này Citta Cetasika sanh sau = Nāma dhamma hỗ trợ cho 5 Āyatana Rūpa sanh ở sát-na tâm trước đó bằng Pacchājāta Paccaya Satti. Quán tất cả 6 dvāra.

C) Because Of The Arising Of Rūpa, Āyatana Rūpa Arises

C) Bởi sự sanh của Rūpa, Āyatana Rūpa sanh.

(It is the Rūpa in the”NāmaRūpa Paccaya” supporting the Āyatana Rūpa in “Saḷāyatana”.)

(Đây là Rūpa trong “NāmaRūpa Paccaya” hỗ trợ Āyatana Rūpa trong “Saḷāyatana”.)

Existing in Cakkhu Dasaka Kalāpa:

Hiện hữu trong Cakkhu Dasaka Kalāpa:

1) Because of the arising of the Four Great Elements in the same Kalāpa (with Cakkhāyatana), Cakkhāyatana arises.

1) Bởi sự sanh của Sắc Tứ Đại trong cùng Kalāpa (với Cakkhāyatana), Cakkhāyatana sanh.

     The Four Great Elements in the same Kalāpa is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Sắc Tứ Đại trong cùng Kalāpa là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

2) Because of the arising of Jīvita in the same Kalāpa, Cakkhāyatana arises.

2) Bởi sự sanh của Jīvita trong cùng Kalāpa, Cakkhāyatana sanh.

     Jīvita in the same Kalāpa is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Jīvita trong cùng Kalāpa là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

3) Because of the arising of Ojā in the same Kalāpa, Cakkhāyatana arises.

3) Bởi sự sanh của Ojā trong cùng Kalāpa, Cakkhāyatana sanh.

     Ojā in the same Kalāpa is the Cause, Cakkhāyatana is the Effect.

Ojā trong cùng Kalāpa là Nhân, Cakkhāyatana là Quả.

{NOTES:  Similarly, further discern that the corresponding (1)Four Great Elements in the same Kalāpa, (2)Jīvita in the same Kalāpa and (3)Ojā in the same Kalāpa support the respective Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana accordingly.  The Four Great Elements support the Āyatana Rūpa of the same Kalāpa by means of Upatthambhaka Satti; Jīvita of the same Kalāpa looks after\guards by means of Anupālaka Satti; Ojā of the same Kalāpa supports by means of Upatthambhaka Satti.  In supporting the Āyatana Rūpa by Ojā of the same Kalāpa, understand that Ojā can support only when it (the Ojā) has the support of Āhāraja Ojā.

(Lưu ý: tương tự, quán xa hơn rằng có sự tương ứng (1) Tứ Đại trong cùng Kalāpa, (2) Jīvita trong cùng Kalāpa và (3) Ojā trong cùng Kalāpa hỗ trợ cho Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana tương ứng. Tứ Đại  hỗ trợ Āyatana Rūpa trong cùng Kalāpa bằng Upatthambhaka Satti; Jīvita của cùng Kalāpa chăm sóc\bảo vệ bằng Anupālaka Satti; Ojā trong cùng Kalāpa hỗ trợ bằng Upatthambhaka Satti. Trong sự hỗ trợ các Āyatana Rūpa bởi Ojā của cùng Kalāpa, nên hiểu rằng Ojā chỉ có thể hỗ trợ khi nó (Ojā) được hỗ trợ từ Āhāraja Ojā.

     Food just eaten which is still in the stomach before being digested is UtujaOjaṭṭhamaka Rūpa.  When it gets the help of the Digestive Fire caused by Kamma called Pācaka Tejo Dhātu, the Ojā in that UtujaOjaṭṭhamaka Rūpa produce new Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa.  As those Rūpa are produced by Ojā, they are called Āhāraja Rūpa.  When the Āhāraja Ojā in those Āhāraja Rūpa support KammajaOjā, CittajaOjā, UtujaOjā and previous ĀhārajaOjā then each and every one of those KammajaOjā, CittaOjā, UtujaOjā and previous ĀhārajaOjā produce new Rūpa Kalapa again.  By producing and supporting like that, Āyatana Rūpas, such as Cakkhāyatana, become strong.  Among the Ojā which get the support, Kammaja Ojā which exist in Kammaja Kalāpa such as Cakkhu Dasaka Kalāpa are included.  Having seen this nature by insight, discern the above.  Discern similarly for Sotāyatana ▬►Kāyāyatana.}

Vật thực vừa mới ăn vẫn còn trong bao tử trước khi bị tiêu hóa là UtujaOjaṭṭhamaka Rūpa. Khi nó được sự trợ giúp của Lửa Tiêu hóa tạo nên bởi Kamma gọi là Pācaka Tejo Dhātu, Ojā trong UtujaOjaṭṭhamaka Rūpa tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa mới. Bởi những Rūpa này được tạo nên bởi Ojā, chúng được gọi là Āhāraja Rūpa. Khi Āhāraja Ojā trong các Āhāraja Rūpa hỗ trợ KammajaOjā, CittajaOjā, UtujaOjā, và các ĀhārajaOjā trước thì kế đến mỗi và tất cả KammajaOjā, CittaOjā, UtujaOjā và ĀhārajaOjā trước tạo nên Rūpa Kalāpa mới một lần nữa. Bằng cách tạo nên và hỗ trợ như vậy, các Āyatana Rūpa, như là Cakkhāyatana, trở nên mạnh mẽ. Trong số Ojā được hỗ trợ, Kammaja Ojā là cái hiện hữu trong Kammaja Kalāpa như Cakkhu Dasaka Kalāpa cũng bao gồm. Sau khi thấy bằng minh sát bản chất này, quán phần trên. Quán tương tự cho từ Sotāyatana đến Kāyāyatana.)

D) Because Of The Arising Of Rūpa, Manāyatana Arises

D) Bởi sự sanh của Rūpa, Manāyatana sanh.

In the PañcaVokāra realms where 5 Khandhā exist (which includes human realm) Nāma can arise only if there is the corresponding Basis Vatthu Rūpa; if there is no Basis Vatthu Rūpa then they cannot arise.  It is to discern this discernment after having seen this nature by insight.  Another point is that in the arising of consciousness Viññāṇa called Manāyatana, the inseparable accompanying Cetasika are included.  These Cetasika together with Manāyatana can only arise dependent upon the respective Basis Vatthu Rūpa.  Therefore there is no fault in including the accompanying Cetasika together when discerning Manāyatana as the predominant.  Among them, PañcaViññāṇa are the Manāyatana which arise dependent upon each own respective Vatthu Rūpa such as Cakkhu Vatthu which arose simultaneously with Atīta Bhavaṅga.  Paṭisandhi Citta=Manāyatana is dependent upon the Hadaya Vatthu Rūpa which arise simultaneously with itself (the Paṭisandhi).  Cuti Citta Manāyatana is dependent upon the Hadaya Vatthu Rūpa which arise simultaneously with the 17th Citta backwards from itself (the Cuti).  Mostly, the Bhavaṅga Citta is dependent upon the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with the preceding mind.  Similarly, except PañcaViññāṇa, the Manāyatana called Manodhātu and ManoViññāṇaDhātu are dependent upon the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with the preceding mind moment.  However according to the Avinābhāva (Inseparable) way, at the Vipassanā stage, there is no fault in meditating combined with Rūpa such as the Catuja Rūpa (54 Rūpa or 44 Rūpa…etc) which arise simultaneously with the Basis Vatthu Rūpa such as Cakkhu Vatthu, Hadaya Vatthu….etc.

Trong cõi PañcaVokāra nơi tồn tại 5 Khandhā (bao gồm nhân loại) Nāma chỉ có thể sanh lên nếu có Vatthu Rūpa tương ứng; nếu không có Vatthu Rūpa tương ứng thì chúng không thể sanh lên được. Cần quán điều kiện này sau khi thấy được bản chất tự nhiên này bằng tuệ quán. Một điểm khác nữa là trong sự sanh của thức Viññāṇa gọi là Manāyatana, các Cetasika đồng sanh và không thể tách rời thì được gộp chung. Những Cetasika  này cùng với Manāyatana chỉ có thể sanh dựa trên các Căn Vatthu Rūpa tương ứng. Bởi thế không có lỗi gì trong việc thêm vào các Cetasika đồng sanh khi quán Manāyatana là chính. Trong số chúng, PañcaViññāṇa là Manāyatana sanh lên dựa trên các Căn Vatthu Rūpa tương ứng ví dụ như Cakkhu Vatthu đồng sanh với Atīta Bhavaṅga. Paṭisandhi Citta = Manāyatana thì dựa trên Hadaya Vatthu Rūpa là cái sanh lên cùng lúc với nó (Paṭisandhi). Cuti Citta Manāyatana dựa trên Hadaya Vatthu Rūpa là cái đồng sanh với tâm thứ 17 từ nó (Cuti) trở về trước. Hầu hết, Bhavaṅga Citta dựa trên Hadaya Vatthu Rūpa là cái đồng sanh với tâm ở sát-na trước. Tương tự, ngoại trừ PañcaViññāṇa, Manāyatana được gọi là Manodhātu và ManoViññāṇaDhātu đều dựa trên Hadaya Vatthu Rūpa đồng sanh với tâm ở sát-na trước đó. Tuy nhiên, theo cách Avinābhāva (không thể tách rời), ở giai đoạn Vipassanā, không có lỗi gì khi quán kết hợp với các Rūpa như là Catuja Rūpa (54 Rūpa hay 44 Rūpa,…) là cái đồng sanh với các Căn Vatthu Rūpa như là Cakkhu Vatthu, Hadaya Vatthu…

Some Examples Of The Discernment

Vài Ví Dụ Quán:

1) Because of the arising of Basis Hadaya Vatthu Rūpa of Paṭisandhi, Paṭisandhi Manāyatana arises.

1) Bởi sự sanh của Căn Hadaya Vatthu Rūpa của Paṭisandhi, Paṭisandhi Manāyatana sanh.

     Basis Hadaya Vatthu Rūpa of Paṭisandhi is the Cause;

Căn Hadaya Vatthu Rūpa của Paṭisandhi là Nhân,

     Paṭisandhi Manāyatana is the Effect.

Paṭisandhi Manāyatana là Quả.

2) Because of the arising of Basis Hadaya Vatthu Rūpa of Bhavaṅga, Bhavaṅga Manāyatana arises.

2) Bởi sự sanh của Căn Hadaya Vatthu Rūpa của Bhavaṅga là Nhân, Bhavaṅga Manāyatana sanh.

     Basis Hadaya Vatthu Rūpa of Bhavaṅga is the Cause;

Căn Hadaya Vatthu Rūpa của Bhavaṅga là Nhân,

     Bhavaṅga Manāyatana is the Effect.

Bhavaṅga Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu which arose together with the mind moment preceding to the Bhavaṇga which the meditator is discerning)

(Đây là Hadaya Vatthu đã đồng sanh với tâm ở sát-na trước tâm Bhavaṅga mà hành giả đang quán.)

3) Because of the arising of Basis Hadaya Vatthu Rūpa of Cuti, Cuti Manāyatana arises.

3) Bởi sự sanh của Căn Hadaya Vatthu Rūpa của Cuti, Cuti Manāyatana sanh.

     Basis Hadaya Vatthu Rūpa of Cuti is the Cause, Cuti Manāyatana is the Effect.

Căn Hadaya Vatthu Rūpa của Cuti là Nhân, Cuti Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with the 17th mind counting backwards from Cuti)

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa đồng sanh với tâm thứ 17 từ Cuti trở về trước.)

4) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, Pañcadvārāvajjana Manāyatana arises.

4) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Pañcadvārāvajjana Manāyatana sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, Pañcadvārāvajjana Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose simultaneously with Bhavaṅgupaccheda)

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa là sắc sanh lên cùng lúc với Bhavaṅgupaccheda)

5)  Because of the arising of Cakkhu Vatthu Rūpa, CakkhuViññāṇa Manāyatana arises.

5) Bởi sự sanh của Cakkhu Vatthu Rūpa, Cakkhu Viññāṇa Manāyatana sanh.

     Cakkhu Vatthu Rūpa is the Cause, CakkhuViññāṇa Manāyatana is the Effect.

Cakkhu Vatthu Rūpa là Nhân, CakkhuViññāṇa Manāyatana là Quả.

     (This is the Majjhimāyuka Cakkhuvatthu Rūpa which arose simultaneously with Atīta Bhavaṅga)

(Đây là Majjhimāyuka Cakkhuvatthu Rūpa là cái đồng sanh với Atīta Bhavaṅga)

6) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, Sampaṭicchana Manāyatana arises

6) Bởi sự sanh lên của Hadaya Vatthu Rūpa, Sampaṭicchana Manāyatana sanh.

     Hadaya Vatthu is the Cause, Sampaṭicchana Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu là Nhân, Sampaṭicchana Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose simultaneously with CakkhuViññāṇa –or PañcaViññāṇa)

(Đây Hadaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng với CakkhuViññāṇa hay PañcaViññāṇa)

7) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, Santīraṇa Manāyatana arises.

7) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Santīraṇa Manāyatana sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, Santīraṇa Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Santīraṇa Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with Sampaṭicchana)

(Đây Hadaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng với Sampaṭicchana)

8) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, Votthapana Manāyatana arises.

8) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Votthapana Manāyatana sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, Votthapana Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Votthapana Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose simultaneously with Santīraṇa)

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa đã sanh lên cùng với Santīraṇa)

9) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, 1st Javana Manāyatana arises.

9) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Javana Manāyatana thứ I sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Effect, 1st Javana Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Javana Manāyatana thứ I là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with Votthapana)

(Đây là Haydaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng với Votthapana)

10) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, 2nd Javana Manāyatana arises.

10) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Javana Manāyatana thứ II sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, 2nd Javana Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Javana Manāyatana thứ II là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with 1st Javana)…..etc

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng Javana thứ I)…

11) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, 1st Tadārammaṇa Manāyatana arises.

11) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Tadārammaṇa Manāyatana thứ I sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, 1st Tadārammaṇa Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Tadārammaṇa Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with the 7th Javana – take note that this is mostly the case)

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng Javana thứ 7 – lưu ý hầu hết đều tương tự)

12) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, 2nd Tadārammaṇa Manāyatana arises.

12) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Tadārammaṇa Manāyatana thứ II sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, 2nd Tadārammaṇa Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Tadārammaṇa Manāyatana thứ II là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with the 1st Tadārammaṇa)

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng Tadārammaṇa thứ I)

13) Because of the arising of Hadaya Vatthu Rūpa, Manodvārāvajjana Manāyatana arises.

13) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu Rūpa, Manodvāravajjana Manāyatana sanh.

     Hadaya Vatthu Rūpa is the Cause, Manodvārāvajjana Manāyatana is the Effect.

Hadaya Vatthu Rūpa là Nhân, Manodvārāvajjana Manāyatana là Quả.

     (This is the Hadaya Vatthu Rūpa which arose together with the preceding Bhavaṅga [=Bhavaṅgupaccheda].)

(Đây là Hadaya Vatthu Rūpa sanh lên cùng với Bhavaṅga trước [=Bhavaṅgupaccheda].)

Base on these methods, discern every Vīthi mind moment as shown in Nāma Kammaṭṭhāna Tables.  Discern all 6 dvāra.  Discern all Kusala Javana Vīthi, Akusala Vīthi in each dvāra.

Dựa trên phương pháp này, quán từng sát-na tâm Vīthi như đã trình bày trong Bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Quán tất cả 6 dvāra. Quán tất cả Kusala Javana Vīthi, Akusala Vīthi trong mỗi dvāra.

E) Because Of The Arising Of NāmaRūpa, Manāyatana Arises

E) Bởi sự sanh của NāmaRūpa, Manāyatana sanh

In this case, take only the Cetasika which accompany with the respective Citta as “Nāma”.  Take mainly the pertaining Basis Vatthu Rūpa where the Nāma dhamma group existing in the respective mind moment is dependent upon; and the inseparable Rūpa such as 54 Rūpa or 44 Rūpa as “Rūpa”.  Having seen by insight that the pertaining NāmaRūpa support the consciousness Manāyatana, discern the discernment below.  The Cause Nāma=Cetasika and the Effect Manāyatana are the group of Sampayutta dhamma which arise together within one mind moment.  As mentioned above, the Basis Vatthu Rūpa are mostly Purejāta dhamma which arise in advance before the Effect Manāyatana.  However at the moment of Patisandhi, it is Sahajāta dhamma.

Trong trường hợp này, chỉ lấy Cetasika sanh cùng với Citta tương ứng làm  “Nāma”. Lấy chủ yếu Căn Vatthu Rūpa tương thích, là nơi mà nhóm Nāma dhamma hiện diện trong sát-na tâm phụ thuộc vào; và các Rūpa không tách ly như 54 Rūpa, hay 44 Rūpa là “Rūpa”. Sau khi thấy bằng minh sát rằng NāmaRūpa tương thích hỗ trợ thức Manāyatana, quán các phần quán sau. Nhân Nāma = Cetasika và Quả Manāyatana là nhóm Sampayutta dhamma đồng sanh trong cùng một sát-na tâm. Như đã đề cập ở trên, Căn Vatthu Rūpa chủ yếu là Purejāta dhamma sanh lên trước Quả Manāyatana. Tuy nhiên, vào sát-na Paṭisandhi, nó là Sahajāta dhamma.

Some Of The Discernment

Các tiến trình quán:

1) Because of the arising of Paṭisandhi NāmaRūpa, Paṭisandhi Manāyatana arises.

1) Bởi sự sanh của Paṭisandhi NāmaRūpa, Paṭisandhi Manāyatana sanh.

     Paṭisandhi NāmaRūpa is the Cause, Paṭisandhi Manāyatana is the Effect.

Paṭisandhi NāmaRūpa là Nhân, Paṭisandhi Manāyatana là Quả.

2) Because of the arising of Bhavaṅga NāmaRūpa, Bhavaṅga Manāyatana arises.

2) Bởi sự sanh của Bhavaṅga NāmaRūpa, Bhavaṅga Manāyatana sanh.

     Bhavaṅga NāmaRūpa is the Cause, Bhavaṅga Manāyatana is the Effect.

Bhavaṅga NāmaRūpa là Nhân, Bhavaṅga Manāyatana là Quả

     (Discern similarly for Cuti)

(Quán tương tự cho Cuti)

3) Because of the arising of Pañcadvārāvajjana NāmaRūpa, Pañcadvārāvajjana Manāyatana arises.

3) Bởi sự sanh của Pañcadvārāvajjana NāmaRūpa, Pañcadvārāvajjana Manāyatana sanh.

     Pañcadvārāvajjana NāmaRūpa is the Cause, Pañcadvārāvajjana Manāyatana is the Effect.

Pañcadvārāvajjana NāmaRūpa là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manāyatana là Quả.

4) Because of the arising of CakkhuViññāṇa NāmaRūpa, CakkhuViññāṇa  Manāyatana arises.

4) Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa NāmaRūpa, CakkhuViññāṇa Manāyatana sanh.

     CakkhuViññāṇa NāmaRūpa is the Cause, CakkhuViññāṇa  Manāyatana is the Effect.

CakkhuViññāṇa NāmaRūpa là Nhân, CakkhuViññāṇa Manāyatana là Quả.

5) Because of the arising of Sampaṭicchana NāmaRūpa, Sampaṭicchana Manāyatana arises.

5) Bởi sự sanh của Sampaṭicchana Manāyatana NāmaRūpa, Sampaṭicchana Manāyatana sanh.

     Sampaṭicchana NāmaRūpa is the Cause, Sampaṭicchana Manāyatana is the Effect.

Sampaṭicchana Manāyatana NāmaRūpa là Nhân, Sampaṭicchana Manāyatana là Quả.

6) Because of the arising of Santīraṇa NāmaRūpa, Santīraṇa Manāyatana arises.

6) Bởi sự sanh của Santīraṇa NāmaRūpa, Santīraṇa Manāyatana sanh.

     Santīraṇa NāmaRūpa is the Cause, Santīraṇa Manāyatana is the Effect.

Santīraṇa NāmaRūpa là Nhân, Santīraṇa Manāyatana là Quả.

7) Because of the arising of Votthapana NāmaRūpa, Votthapana Manāyatana arises.

7) Bởi sự sanh của Votthapana NāmaRūpa, Votthapana Manāyatana sanh.

Votthapana NāmaRūpa is the Cause, Votthapana Manāyatana is the Effect.

Votthapana NāmaRūpa là Nhân, Votthapana Manāyatana là Quả.

8) Because of the arising of 1st Javana NāmaRūpa, 1st Javana Manāyatana arises.

8) Bởi sự sanh của Javana NāmaRūpa thứ I, Javana Manāyatana thứ I sanh.

     1st Javana NāmaRūpa is the Cause, 1st Javana Manāyatana is the Effect.

Javana NāmaRūpa thứ I là Nhân, Javana Manāyatana thứ I là Quả.

     (Discern the 2nd Javana…..etc base on this method)

(Quán Javana thứ II,… theo cùng phương pháp.)

9) Because of the arising of 1st Tadārammaṇa NāmaRūpa, 1st Tadārammaṇa Manāyatana arises.

9) Bởi sự sanh của Tadārammaṇa NāmaRūpa thứ I, Tadārammaṇa Manāyatana thứ I sanh.

     1st Tadārammaṇa NāmaRūpa is the Cause, 1st Tadārammaṇa Manāyatana is the Effect.

Tadārammaṇa NāmaRūpa thứ I là Nhân, Tadārammaṇa Manāyatana thứ I là Quả.

     (Discern the 2nd Tadārammaṇa base on the this method)

 (Quán Tadarammaṇa thứ II dựa trên cùng phương pháp.)

10) Because of the arising of Manodvārāvajjana NāmaRūpa, Manodvārāvajjana Manāyatana arises.

10) Bởi sự sanh của Manodvārāvajjana NāmaRūpa, Manodvārāvajjana Manāyatana sanh.

     Manodvārāvajjana NāmaRūpa is the Cause, Manodvārāvajjana Manāyatana is the Effect.

Manodvārāvajjana NāmaRūpa là Nhân, Manodvārāvajjana Manāyatana là Quả.

Discern Base On Those Methods

Quán Dựa Trên Những Phương Pháp Trên

Discern every mind moment in Cakkhudvāra Vīthi & Manodvāra Vīthi which take Rupārammaṇa as object according to the Nāma Kammaṭṭhāna Tables.  Discern similarly in Vīthi such as Sotadvāra Vīthi which takes Saddārammaṇa as object….etc.  Discern all Kusala Javana Vīthi and Akusala Javana Vīthi in all 6 types of Vīthi.  Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana, Manodvārāvajjana are also discerned combined together so that no Paramattha Dhātu are left out.

Quán từng sát-na tâm trong Cakkhudvāra Vīthi & Manodvāra Vīthi là các tiến trình lấy đối tượng Rūpārammaṇa theo bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Quán tương tự trong các Vīthi như Sotadvāra Vīthi là tiến trình lấy Saddārammaṇa là đối tượng… Quán tất cả Kusala Javana Vīthi và Akusala Javana Vīthi trong tất cả 6 loại Vīthi. Pañcadvārāvajjana, Votthapana, Javana, Manodvārāvajjana cũng được quán chung để không bỏ sót Paramattha Dhātu nào cả.

SAḶĀYATANAPACCAYĀ PHASSO

SAḶĀYATANAPACCAYĀ PHASSO

(Because of the arising of Saḷāyatana, Phassa arises.)

(Bởi sự sanh của Saḷāyatana, Phassa sanh.)

Phassa:-  There are, briefly, 6 types of Phassa which are Cakkhusamphassa, Sotasamphassa, Ghānasamphassa, Jivhāsamphassa, Kāyasamphassa and Manosamphassa.  All the Phassa which accompany with Paṭisandhi, Bhavaṅga, Cuti; and with Pañcadvārāvajjana, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Votthapana, Javana, Tadārammaṇa, Manodvārāvajjana are called Manosamphassa.

Phassa: – Tóm tắt có 6 loại Phassa là Cakkhusamphassa, Sotasamphassa, Ghānasamphassa, Jivhāsamphassa, Kāyasamphassa và Manosamphassa. Tất cả Phassa sanh cùng với Paṭisandhi, Bhavaṅga, Cuti; và với Pañcadvārāvajjana, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Votthapana, Javana, Tadārammaṇa, Manodvārāvajjana được gọi là Manosamphassa.

Saḷāyatana:-  In this case, take all 12 Āyatana which are the 6 internal Āyatana=Ajjhattikāyatana i.e. Cakkhāyatana, Sotāyatana, Ghānāyatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana, Manāyatana and the 6 external Āyatana=Bāhirāyatana i.e. Rūpāyatana, Saddāyatana, Gandhāyatana, Rasāyatana, Phoṭṭhabbāyatana, Dhammāyatana as “Saḷāyatana”.  These internal and external Āyatana are the ‘devices’\’medium’ which can expand and intensify the Citta-Cetasika.  (For example) When Eye Transparent Element which is the Cakkhāyatana and Rūpārammaṇa which is the Rūpāyatana impinge, then if that Rūpārammaṇa is iṭṭhārammaṇa (pleasant object) then the smile is intensified; if the Rūpārammaṇa is aniṭṭha (unpleasant) then the frown is intensified.  Therefore that Cakkhāyatana and Rūpāyatana are the ‘devices’ or ‘medium’ which intensify the Citta-Cetasika i.e. the Cakkhudvāra Vīthi & Manodvāra Vīthi which take Rūpārammaṇa as object.  Understand it in this way.

Salāyatana: – trong trường hợp này, lấy tất cả 12 Āyatana gồm có 6 nội Āyatana = Ajjhattikāyatana tức là Cakkhāyatana, Sotāyatana, Ghānayatana, Jivhāyatana, Kāyāyatana, Manāyatana và 6 ngoại Āyatana = Bāhirāyatana tức là Rūpāyatana, Saddāyatana, Gandhāyatana, Rasāyatana, Phoṭṭhabbāyatana, Dhammāyatana là “Saḷāyatana”. Những nội và ngoại Āyatana này là ‘phương tiện’/ ‘trung gian’ có thể làm cho Citta – Cetasika phát triển và tăng cường. (Ví dụ) Khi Nhãn Tịnh Sắc tức là Cakkhāyatana bị Rūpārammaṇa tức là Rūpāyatana đập vào, lúc đó nếu Rūpārammaṇa đó là Iṭṭhārammaṇa (cảnh khả lạc) thì nụ cười được nảy ra; nếu Rūpārammaṇa là aniṭṭha (không lạc) thì cau mày nổi lên. Bởi thế Cakkhāyatana và Rūpāyatana đó là ‘phương tiện’ hay ‘trung gian’ làm nổi lên Citta – Cetasika tức là Cakkhudvāra Vīthi & Manodvāra Vīthi có đối tượng là Rūpārammaṇa. Nên hiểu theo cách như vậy.

Among the 12 Āyatana, the (i) 52 Cetasika and (ii) 16 Sukhuma subtle Rūpa are included.  All Cetasika accompanying with the respective Citta are called Dhammāyatana.  As Hadaya Vatthu Rūpa is included in Sukhuma Rūpa, the Hadaya Vatthu Rūpa is also called Dhammāyatana.  The Cetasika accompanying with the respective Citta, especially the Cetasika accompanying with the respective Phassa are called Sampayutta Dhammāyatana.  All consciousness=Viññāṇa are called Manāyatana.

Trong 12 Āyatana, (i) 52 Cetasika và (ii) 16 Sukhuma Rūpa (Sắc tế) cũng được bao gồm. Tất cả Cetasika đồng sanh với các Citta tương ứng được gọi là Dhammāyatana. Vì Hadaya Vatthu Rūpa được gộp trong Sukhuma Rūpa nên Hadaya Vatthu cũng được gọi là Dhammāyatana . Các Cetasika đồng sanh với các Citta tương ứng, đặc biệt là những Cetasika đồng sanh với các Phassa tương ứng được gọi là Sampayutta Dhammāyatana. Tất cả thức = Viññāṇa được gọi là Manāyatana.

Some Of The Discernment

Vài Tiến Trình Quán:

Paṭisandhi Manosamphassa=Paṭisandhi Citta & accompanying Phassa

Paṭisandhi Manosamphassa = Paṭisandhi Citta & Phassa đồng sanh

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu=Dhammāyatana, Paṭisandhi Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu = Dhammāyatana, Paṭisandhi Manosamphassa sanh.

     Hadaya Vatthu Dhammāyatana is the Cause, Paṭisandhi Manosamphassa is the Effect.

Hadaya Vatthu Dhammāyatana là Nhân, Paṭisandhi Manosamphassa là Quả.

2) Because of the arising of Bāhirāyatana (it is either one of these 3: Kamma, Kamma Nimitta or Gati Nimitta), Paṭisandhi Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Bāhirāyatana (ở đây có thể là một trong ba: Kamma, Kamma Nimitta hay Gati Nimitta), Paṭisandhi Manosamphassa sanh.

     Bāhirāyatana is the Cause, Paṭisandhi Manosamphassa is the Effect.

Bāhirāyatana là Nhân, Paṭisandhi Manosamphassa là Quả.

3) Because of the arising of Paṭisandhi Viññāṇa=Manāyatana, Paṭisandhi Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Paṭisandhi Viññāṇa = Manāyatana, Paṭisandhi Manosamphassa sanh.

     Paṭisandhi Viññāṇa=Manāyatana is the Cause, Paṭisandhi Manosamphassa is the Effect.

Paṭisandhi Viññāṇa = Manāyatana là Nhân, Paṭisandhi Manosamphassa là Quả.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=32), Paṭisandhi Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana  (=32), Paṭisandhi Manosamphassa sanh.

     Sampayutta Dhammāyatana(=32) is the Cause, Paṭisandhi Manosamphassa is the Effect.

Sampayutta Dhammāyatana (=32) là Nhân, Paṭisandhi Manosamphassa là Quả.

Paṭisandhi Manosamphassa is also the Nāma dhamma.  According to the nature of Nāma dhamma (in PañcaVokāra realm), they can arise only if there is Basis Vatthu Rūpa.  Furthermore, as Phassa has the nature of ‘touching’ (i.e. contact), the ‘contact’ Phassa can arise only when there is an object to ‘touch’ (contact).  If there is no object to ‘touch’ then the ‘touching’ Phassa cannot arise.  As the object of those Paṭisandhi Nāma dhamma group is either Kamma, Kamma Nimitta or Gati Nimitta, that object can be any of the 6 objects accordingly.  If it is Kamma object then, –as it is the Kusala Cetanā for human beings– that Kamma object is the Dhammāyatana of that Kusala Cetanā.  If the meditator wants to discern specifying that Dhammāyatana then he can discern No.( 2) above changed as follows:

Paṭisandhi Manosamphassa cũng là Nāma dhamma. Theo bản chất của Nāma dhamma (trong cõi PañcaVokāra), chúng chỉ có thể khởi lên nếu có Căn Vatthu Rūpa. Hơn nữa, vì Phassa có đặc tính của ‘chạm’  (tức là xúc), ‘xúc’ Phassa chỉ có thể sanh khi có đối tượng để ‘chạm’ (xúc). Nếu không có đối tượng để ‘chạm’ thì ‘xúc’ Phassa không thể sanh. Vì đối tượng của những nhóm Paṭisandhi Nāma dhamma có thể là Kamma, Kamma Nimitta hay Gati Nimitta, đối tượng đó có thể là bất kỳ 1 trong 6 đối tượng. Nếu nó là đối tượng Kamma thì, — vì nó là Kusala Cetanā đối với con người — đối tượng Kamma đó là Dhammāyatana của Kusala Cetanā đó. Nếu hành giả muốn quán riêng Dhammāyatana đó thì vị ấy có thể quán Số 2) ở trên được đổi thành như sau:

2) Because of the arising of Kamma object=Dhammāyatana, Paṭisandhi Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của đối tượng (cảnh) Kamma = Dhammāyatana, Paṭisandhi Manosamphassa sanh.

     Kamma object=Dhammāyatana is the Cause, Paṭisandhi Manosamphassa is the Effect.

Cảnh Kamma = Dhammāyatana là Nhân, Paṭisandhi Manosamphassa là Quả.

Sampayutta Dhammāyatana

Sampayutta Dhammāyatana

If it is Somanassa Tihetuka Paṭisandhi then there are 33 Cetasika accompanying with Paṭisandhi Viññāṇa.  Among these, Phassa is included;  this is Paṭisandhi Manosamphassa.  Paṭisandhi Viññāṇa Citta is Manāyatana.  If subtract the Effect Phassa from the 33 Cetasika then there are 32 Cetasika.  These Cetasika are the Dhammāyatana dhamma group; they are the Sampayutta Dhammāyatana.  Take note that the method is the same in every case.  Discern Bhavaṅga Manosamphassa and Cuti Manosamphassa based on the same method with Paṭisandhi Manosamphassa.

Nếu đó là Somanassa Tihetuka Paṭisandhi thì có 33 Cetasika đồng sanh với Paṭisandhi Viññāṇa. Trong số này, Phassa là một; đây là Paṭisandhi Manosamphassa. Paṭisandhi Viññāṇa Citta là Manāyatana. Nếu trừ Phassa Quả khỏi 33 Cetasika như vậy còn 32 Cetasika. Những Cetasika này là nhóm Dhammāyatana dhamma; chúng là Sampayutta Dhammāyatana. Lưu ý rằng phương pháp này là tương tự trong các trường hợp khác. Quán Bhavaṅga Manosamphassa và Cuti Manosamphassa dựa trên cùng phương pháp với Paṭisandhi Manosamphassa.

Pañcadvārāvajjana Manosamphassa (Rūpārammaṇa line)

Pañcadvārāvajjana Manosamphassaa (dòng Rūpārammaṇa)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu=Dhammāyatana, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu = Dhammāyatana, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa sanh.

     Hadaya Vatthu=Dhammāyatana is the Cause, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa is the Effect.

Hadaya Vatthu = Dhammāyatana là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa là Quả.

2) Because of the arising of Rūpāyatana=Rūpārammaṇa, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana = Rūpārammaṇa, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa sanh.

     Rūpāyatana=Rūpārammaṇa is the Cause, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa is the Effect.

Rūpāyatana = Rūpārammaṇa là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa là Quả.

3) Because of the arising of Pañcadvārāvajjana Manāyatana, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Pañcadvārāvajjana Manāyatana, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa sanh.

     Pañcadvārāvajjana Manāyatana is the Cause, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa is the Effect.

Pañcadvārāvajjana Manāyatana là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa là Quả.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=9), Pañcadvārāvajjana Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=9), Pañcadvārāvajjna Manosamphassa sanh.

     Sampayutta Dhammāyatana(=9) is the Effect, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa is the Effect.

Sampayutta Dhammāyatana  (= 9) là Nhân, Pañcadvārāvajjana Manosamphassa là Quả.

{NOTES:  Although the followings are written shorter, all the discernment are the same as above}.

(LƯU Ý: mặc dù các đoạn sau đây được viết ngắn hơn, tất cả các phép quán thì tương tự như ở trên).

Cakkhusamphassa=Phassa accompanying with CakkhuViññāṇa

Cakkhusamphassa = Phassa đồng sanh với CakkhuViññāṇa

1) Because of the arising of Cakkhāyatana(=CakkhuVatthu), Cakkhusamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Cakkhāyatana (=CakkhuVatthu), Cakkhusamphassa sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana(=Rūpārammaṇa), Cakkhusamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana (=Rūpārammaṇa), Cakkhusamphassa sanh.

3) Because of the arising of CakkhuViññāṇa Manāyatana, Cakkhusamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của CakkhuViññāṇa Manāyatana, Cakkhusamphassa sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=6), Cakkhusamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=6), Cakkhusamphassa sanh.

Sampaṭicchana Manosamphassa (Rūpārammaṇa line)

Sampaṭicchana Manosamphassa (dòng Rūpārammaṇa)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu(=Dhammāyatana), Sampaṭicchana Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu (Dhammāyatana), Sampaṭicchana Manosamphassa sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana, Sampaṭicchana Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana, Sampaṭicchana Manosamphassa sanh.

3) Because of the arising of Sampaṭicchana Manāyatana, Sampaṭicchana Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Sampaṭicchana Manāyatana, Sampaṭicchana Manosamphassa sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=9), Sampaṭicchana Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (= 9), Sampaṭicchana Manosamphassa sanh.

Santīraṇa Manosamphassa (Rūpārammaṇa line)

Satīraṇa Manosamphassa (dòng Rūpārammaṇa)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu(=Dhammāyatana), Santīraṇa Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu (=Dhammāyatana), Santīraṇa Manosamphassa sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana, Santīraṇa Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana, Santīraṇa Manosamphassa sanh.

3) Because of the arising of Santīraṇa Manāyatana, Santīraṇa Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Santīraṇa Manāyatana, Santīraṇa Manosamphassa sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=9 or 10), Santīraṇa Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=9 hay 10), Santīranṇa Manosamphassa sanh.

Votthapana Manosamphassa (Rūpārammaṇa line)

Votthapana Manosamphassa (dòng Rūpāramma)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu(=Dhammāyatana), Votthapana Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu (=Dhammāyatana), Votthapana Manosamphassa sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana, Votthapana Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana, Votthapana Manosamphassa sanh.

3) Because of the arising of Votthapana Manāyatana, Votthapana Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Votthapana Manāyatana, Votthapana Manosamphassa sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=10), Votthapana Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=10), Votthapana Manosamphassa sanh.

1st Javana Manosamphassa (Rūpārammaṇa Line–Kusala Javana)

Javana Manosamphassa thứ I (dòng Rūpārammaṇa – Kusala Javana)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu(=Dhammāyatana), 1st Javana Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu (=Dhammāyatana), Javana Manosamphassa thứ I sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana, 1st Javana Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana, Javana Manosamphassa thứ I sanh.

3) Because of the arising of 1st Javana Manāyatana, 1st Javana Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Javana Manāyatana thứ I,  Javana Manosamphassa thứ I sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=32), 1st Javana Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=32), Javana Manosamphassa thứ I sanh.

(Discern the remaining Javana such as 2nd Javana and the remaining Kusala Javana Vīthi & Akusala Javana Vīthi based on this method.  Discern all 7 times of Javana.)

(Quán tất cả Javana còn lại như Javana thứ 2 và các Kusala Javana Vīthi & Akusala Javana Vīthi dựa trên cùng phương pháp. Quán tất cả 7 lần của Javana.)

1st Tadārammaṇa Manosamphassa (Rūpārammaṇa line)

Tadārammaṇa Manosamphassa thứ I (dòng Rūpārammaṇa)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu=Dhammāyatana, 1st Tadārammaṇa Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu = Dhammāyatana, Tadārammaṇa Manosamphassa thứ I sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana, 1st Tadārammaṇa Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana, Tadārammaṇa Manosamphassa thứ I sanh

3) Because of the arising of 1st Tadārammaṇa Manāyatana, 1st Tadārammaṇa Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Tadārammaṇa Manāyatana thứ I, Tadārammaṇa Manosamphassa thứ I sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=32), 1st Tadārammaṇa Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=32), Tadārammaṇa Manosamphassa thứ I sanh.

(Discern the remaining MahāVipāka Tadārammaṇa or AhetukaKusalaVipāka Tadārammaṇa or Akusala Vipāka Tadārammaṇa as it arises accordingly, based on the above method.  There may be changes only in the quantity of Cetasika in Sampayutta Dhammāyatana.)

(Quán tất cả MahāVipāka Tadārammaṇa hay AhetukaKusalaVipāka Tadārammaṇa hay Akusala Vipāka Tadārammaṇa còn lại khi chúng sanh lên, dựa theo phương pháp trên. Có thể có các thay đổi chỉ ở số lượng các Cetasika trong Sampayutta Dhammāyatana.)

Manodvārāvajjana Manosamphassa (Rupārammaṇa as object)

Manodvārāvajjana Manosamphassa (cảnh là Rūpārammaṇa)

1) Because of the arising of Hadaya Vatthu(=Dhammāyatana), Manodvārāvajjana Manosamphassa arises.

1) Bởi sự sanh của Hadaya Vatthu (=Dhammāyatana), Manodvārāvajjana Manosamphassa sanh.

2) Because of the arising of Rūpāyatana, Manodvārāvajjana Manosamphassa arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpāyatana, Manodvārāvajjana Manosamphassa sanh.

3) Because of the arising of Manodvārāvajjana Manāyatana, Manodvārāvajjana Manosamphassa arises.

3) Bởi sự sanh của Manodvārāvajjana Manāyatana sanh, Manodvārāvajjana Manosamphassa sanh.

4) Because of the arising of Sampayutta Dhammāyatana(=10), Manodvārāvajjana Manosamphassa arises.

4) Bởi sự sanh của Sampayutta Dhammāyatana (=10), Manodvārāvajjana Manosamphassa sanh.

(NOTES:  Discern all Kusala Javana Vīthi & Akusala Javana Vīthi in Rūpārammaṇa line as shown in the Nāma Kammaṭṭhāna Tables.  As shown in the Tables that the quantity of Cetasika in Santīraṇa, Javana, Tadārammaṇa may vary, take them accordingly –with the exception of Phassa– as “Sampayutta Dhammāyatana”.  The only difference in Sotadvāra Vīthi…etc is to replace “Rūpāyatana” with “Saddāyatana=Saddārammaṇa….etc”.  Discern base on the same method.  Although Votthapana, Javana and Āvajjana such as Pañcadvārāvajjana & Manodvārāvajjana are not part of Vipāka Vaṭṭa, they are discerned  together so that no Paramattha dhamma is left out.  PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa and Tadārammaṇa Nāmakkhandhā in Pañcadvāra Vīthi cannot arise by themselves without a preceding Pañcadvārāvajjana.  If it is the Tadārammaṇa in Manodvāra Vīthi then it cannot arise without Manodvārāvajjana.  As it is natural that Tadārammaṇa arise only subsequent to Javana, it (Tadārammaṇa) never arise without Javana.  As for Javana, it never arise without Votthapana in Pañcadvārika Javana and never arise without Manodvārāvajjana in Manodvārika Javana.  Therefore if Vipāka Nāma which are PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa arise then it is natural that Āvasjjana, Votthapana, Javana also arise.  Therefore when the meditator discerns the Vipāka Nāma, there is no fault if he discerns Āvajjana, Votthapana, Javana together also with the purpose of not leaving out any Paramattha dhamma.)

(Lưu ý: quán tất cả Kusala Javana Vīthi & Akusala Javana Vīthi trong dòng Rūpārammaṇa như đã trình bày trong bảng Nāma Kammaṭṭhāna. Như đã trình bày trong bảng rằng số lượng Cetasika trong Santīraṇa, Javana, Tadārammaṇa có thể thay đổi, lấy chúng — loại trừ Phassa — là “Sampayutta Dhammāyatana”.  Sự khác biệt duy nhất trong Sotadvāra Vīthi…. chính là thay thế “Rūpāyatana” bằng “Saddāyatana = Saddārammaṇa…”. Quán dựa trên cùng phương pháp. Mặc dù Votthapana, Javana và Āvajana như Pañcadvārāvajjana & Manodvārāvajjana không thuộc về Vipāka Vaṭṭa, chúng được quán chung với nhau để không có Paramattha dhamma nào bị sót. PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa và Tadārammaṇa Nāmakkhandhā trong Pañcadvara Vīthi không thể tự mình sanh lên mà không có Pañcadvārāvajjana trước đó. Nếu đó là Tadārammaṇa trong Manodvāra Vīthi thì nó không thể sanh mà không có Manodvārāvajjana. Điều tự nhiên rằng Tadārammaṇa chỉ sanh sau Javana, nó (Tadārammaṇa) không bao giờ sanh mà không có Javana. Đối với Javana, nó không bao giờ sanh lên mà không có Votthapana trong Pañcadvārika Javana và không bao giờ sanh lên mà không có Manodvārāvajjana trong Manodvārika Javana. Bởi thế nếu Vipāka Nāma tức PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa sanh thì luật tự nhiên Āvajjana, Votthapana, Javana cũng phải sanh. Bởi vậy khi hành giả quán Vipāka Nāma, không có sai lầm gì nếu vị ấy quán Āvajjana, Votthapana, Javana chung với nhau với mục đích là không để sót một Paramattha dhamma nào.)

{Notes from the interview:  There are 6 types of Dhammāyatana:-

{Lưu ý từ việc trình Pháp: có 6 loại Dhammāyatana:-

     1) 5 Pasāda Rūpa (Transparent Element)

1) 5 Pasāda Rūpa (Tịnh sắc)

     2) 16 Sukhuma Rūpa (Subtle Rūpa)

2) 16 Sukhuma Rūpa (sắc Tế)

     3) All types of Citta

3) Tất cả các Citta

     4) All 52 Cetasika

4) Tất cả 52 Cetasika

     5) Nibbāna

5) Nibbāna

     6) Paññatti like White Kasina, Anāpānā Nimitta, etc….

6) Paññatti (Chế định) như Kasina Trắng, Anāpānā Nimitta,vv…

Except the 5 Pasāda Rūpa and 7 Gocara Rūpa, there are 16 Sukhuma Rūpa (28-12=16 Sukhuma Rūpa).  Among these 16, Hadaya Vatthu is also included.  HadayaVatthu is Dhammayatana.}

Ngoại trừ 5 Pasāda Rūpa và 7 Gocara Rūpa thì có 16 Sukhuma Rūpa (28 – 12 = 16 Sukhuma Rūpa). Hadaya Vatthu là một trong con số 16 này. HadayaVatthu là Dhammāyatana.}

PHASSAPACCAYĀ VEDANĀ

PHASSAPACCAYĀ VEDANĀ

(Because of the arising of Phassa, Vedanā arises)

(Bởi sự sanh của Phassa, Vedanā sanh)

Because of the 6 types of Phassa the following 6 types of Vedanā arise:

Bởi sự sanh của 6 loại Phassa, 6 loại Vedanā sanh:

1) Cakkhusamphassajā Vedanā = Vedanā produced by Cakkhusamphassa

1) Cakkhusamphassajā Vedanā = Vedanā tạo nên bởi Cakkhusamphassa

2) Sotasamphassajā Vedanā = Vedanā produced by Sotasamphassa

2) Sotasamphassajā Vedanā = Vedanā tạo nên bởi Sotasamphassa

3) Ghānasamphassajā Vedanā = Vedanā produced by Ghānasamphassa

3) Ghānasamphassajā Vedanā = Vedanā tạo nên bởi Ghānasamphassa

4) Jivhāsamphassajā Vedanā = Vedanā produced by Jivhāsamphassa

4) Jivhāsamphassajā Vedanā = Vedanā tạo nên bởi Jivhāsamphassa

5) Kāyasamphassajā Vedanā = Vedanā produced by Kāyasamphassa

5) Kāyasamphassajā Vedanā = Vedanā tạo nên bởi Kāyasamphassa

6) Manosamphassajā Vedanā = Vedanā produced by Manosamphassa

6) Manosamphassajā Vedanā = Vedanā tạo nên bởi Manosamphassa

Here, the meditator should know about Cakkhusamphassajā Vedanā, Cakkhusamphassapaccayā Vedanā etc…

Ở đây, hành giả nên biết về Cakkhusamphassajā Vedanā, Cakkhusamphassapaccayā Vedanā…

CAKKHUSAMPHASSAJĀ VEDANĀ + CAKKHUSAMPHASSAPACCAYĀ  VEDANĀ

CAKKHUSAMPHASSAJĀ VEDANĀ + CAKKHUSAMPHASSAPACCAYĀ VEDANĀ

Cakkhusamphassajā Vedanā…..atthi kusalā, atthi akusalā, atthi abyākatā (Abhidhamma-Bk. II-16, Burmese script).

Cakkhusamphassajā Vedanā…..atthi kusalā, atthi akusalā, atthi abyākatā (Abhidhamma-Bk. II-16, Burmese script).

Cakkhusamphassapaccayā vedanākkhandho atthi kusalo, atthi akusalo, atthi abyākato (Abhidhamma-Bk.II-25, Burmese script).

Cakkhusamphassapaccayā vedanākkhandho atthi kusalo, atthi akusalo, atthi abyākato (Abhidhamma-Bk.II-25, Burmese script).

Cakkhusamphassajā Vedanā…..Manosamphassajā Vedanāti etaṁ-”cakkhusamphassajā vedanā atthi kusalā, atthi akusalā, atthi abyākatā”ti evaṁ vibhaṅge agatatta cakkhudvārādīsu pavattānaṁ kusalākusalabyākatavedanā “Sāriputto, Mantāṇiputto”ti evamādīsu mātito nāmaṁ viya mātisadisavatthuto nāmaṁ.  Vacannttho panettha cakkhusamphassahetu jātā vedanā cakkhusamphassajā vedanāti.  Esa nayo sabbattha (Majjhima Commentary-Vol.I-225; Saṁyutta Commentary-Vol.II-15 Burmese script)

Cakkhusamphassajā Vedanā…..Manosamphassajā Vedanāti etaṁ-“cakkhusamphassajā vedanā atthi kusalā, atthi akusalā, atthi abyākatā”ti evaṁ vibhaṅge agatatta cakkhudvārādīsu pavattānaṁ kusalākusalabyākatavedanā “Sāriputto, Mantāṇiputto”ti evamādīsu mātito nāmaṁ viya mātisadisavatthuto nāmaṁ. Vacannttho panettha cakkhusamphassahetu jātā vedanā cakkhusamphassajā vedanāti. Esa nayo sabbattha (Majjhima Commentary-Vol.I-225; Saṁyutta Commentary- Vol.II-15 Burmese script)

Cakkhusamphassapaccayā vedanākkhandhā atthikusaloti kāmāvacara aṭṭhakusalacittavasena veditabbo.  Atthi akusaloti dvādasa akusalacittavasena veditabbo.  Atthi abyākatoti tisso manodhātuyo tisso ahetuka manoviññāṇadhātuyo, aṭṭha mahāvipākāni, dasa kāmāvacarakiriyāti catuvīsatiyā cittāni vasena veditabbo.

Cakkhusamphassapaccayā vedanākkhandhā atthikusaloti kāmāvacara aṭṭhakusalacittavasena veditabbo. Atthi akusaloti dvādasa akusalacittavasena veditabbo. Atthi abyākatoti tisso manodhātuyo tisso ahetuka manoviññāṇadhātuyo, aṭṭha mahāvipākāni, dasa kāmāvacarakiriyāti catuvīsatiyā cittāni vasena veditabbo.

Tattha aṭṭha kusalāni dvādasa akusalāni ca javanavasena labbhanti, kiriyamanodhātu āvajjanavasena labbhati.  Dve vipākamanodhātuyo sampaṭicchanavasena, tisso vipākamanoviññāṇadhātuyo santīraṇatadārammaṇnvasena, kiriyāhetukamanoviññāṇadhātu voṭṭhabbanavasena, aṭṭhamahāvipākacittāni tadārammaṇavasena, nava kiriyacittāni javanavasena labbhanti.  Sotaghāna jivhākāyadvāresupi eseva nayo(Abhidhamma Commentary-Vol.II-36 Burmese script).

Tattha aṭṭha kusalāni dvādasa akusalāni ca javanavasena labbhanti, kiriyamanodhātu āvajjanavasena labbhati. Dve vipākamanodhātuyo sampaṭicchanavasena, tisso vipākamanoviññāṇadhātuyo santīraṇatadārammaṇnvasena, kiriyāhetukamanoviññāṇadhātu voṭṭhabbanavasena, aṭṭhamahāvipākacittāni tadārammaṇavasena, nava kiriyacittāni javanavasena labbhanti. Sotaghāna jivhākāyadvāresupi eseva nayo (Abhidhamma Commentary-Vol.II-36 Burmese script).

Cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitanti cakkhusamphassaṁ mūlapaccayaṁ katvā uppannā sampaṭicchanasantīraṇa voṭṭhabbanajavanavedanā.  Cakkhuviññāṇasampayuttāya pana vattabbameva natthi.  Sotadvārādivedanāpaccayādīsupi esevanayo (Saṁyutta Commentary – Vol.III – 5, Burmese script).

Cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitanti cakkhusamphassaṁ mūlapaccayaṁ katvā uppannā sampaṭicchanasantīraṇa voṭṭhabbanajavanavedanā. Cakkhuviññāṇasampayuttāya pana vattabbameva natthi. Sotadvārādivedanāpaccayādīsupi esevanayo (Saṁyutta Commentary – Vol.III – 5, Burmese script).

In accordance with the above Pāḷi and Commentary, all Vedanā – their fundamental Cause being the Cakkhusamphassa which accompany with CakkhuViññāṇa – which accompany with Kusala, Akusala & Abyākata(=Vipāka Kiriyā) such as:

Theo như đoạn Pāli và Chú giải, tất cả Vedana – Nhân nền tảng của chúng là Cakkhusamphassa đồng sanh với CakkhuViññnāṇa – đồng sanh với Kusala, Akusala & Abyākata (=Vipāka Kiriyā) như là:

1) Pañcadvārāvajjana,

1) Pañcadvārāvajjana,

2) CakkhuViññāṇa,

2) CakkhuViññāṇa,

3) Sampaṭicchana,

3) Sampaṭicchana,

4) Santīraṇa,

4) Santīraṇa,

5) Votthapana,

5) Votthapana,

6) (i) Kāmāvacara Kusala Javana

6) (i) Kāmāvacara Kusala Javana

     (ii) Akusala Javana

 (ii) Akusala Javana

     (iii) Kāmāvacara kiriyā Javana

 (iii) Kāmāvacara kiriyā Javana

7) Tadārammaṇa

7) Tadārammaṇa

are called CakkhusamphassajāVedanā + CakkhusamphassapaccayāVedanā.

được gọi là CakkhusamphassajāVedanā + CakkhusamphassapaccayāVedanā.

Take note that it is the same for Sotasamphassajā Vedanā Sotasamphassapaccayā Vedanā…..etc.

Lưu ý rằng điều này là tương tự cho cho Sotasamphassajā Vedanā Sotasamphassapaccayā Vedanā…

Kiriyamanodhātu āvajjanavasena labbhati (Abhidhamma Commentary-Vol.II-36).

Kiriyamanodhātu āvajjanavasena labbhati (Abhidhamma Commentary-Vol.II-36).

The Vedanā accompanying with Pañcadvārāvajjana is also mentioned as being produced by Cakkhusamphassa.  Take note that it is a type of metaphor (pariyāya).  The Vedanā accompanying with Pañcadvārāvajjana arose first and only after the perishing away of that Vedanā together with Pañcadvārāvajjana Nāma dhamma group then Cakkhusamphassa accompanying with CakkhuViññāṇa can arise.  The Effect arise first and the Cause arise later.  Vedanā accompanying with Pañcadvārāvajjana which arise first is supported by Cakkhusamphassa accompanying with CakkhuViññāṇa which arise subsequently.  It seems to be Pacchājātapaccaya.  As explained at the stage of NāmaRūpapaccayā Saḷāyatanaṁ, in Pacchājātapaccaya the Cause paccaya dhamma is Nāma dhamma and the Effect Paccayuppanna dhamma is Rūpa dhamma; but now both Cause and Effect are Nāma.  Therefore it is not included in Pacchājātapaccaya.

Vedanā đồng sanh với Pañcadvārāvajjana cũng được đề cập là được tạo bởi Cakkhusamphassa. Lưu ý đây là một loại ẩn dụ (pariyāya). Vedanā đồng sanh với Pañcadvārāvajjana sanh lên trước và chỉ sau khi Vedanā cùng với nhóm Pañcadvārāvajjana dhamma đó diệt đi rồi thì Cakkhusamphassa đồng sanh với CakkhuViññāṇa mới có thể sanh. Quả sanh trước và Nhân sanh sau đó. Vedanā đồng sanh với Pañcadvārāvajjana sanh lên trước được hỗ trợ bởi Cakkhusamphassa đồng sanh với CakkhuViññāṇa sanh sau đó. Nhìn thì có vẻ giống như Pacchājātapaccaya. Như đã giải thích trong giai đoạn của NāmaRūpapaccayā Saḷāyatanaṁ, trong Pacchājātapaccaya, Nhân paccaya dhamma là Nāma dhamma và Quả Paccayuppanna dhamma là Rūpa dhamma; nhưng trong trường hợp này cả Nhân và Quả đều là Nāma. Vì vậy nó không được nằm trong Pacchājātapaccaya.

However, Pañcadvārāvajjana which reflect on the Rūpārammaṇa can arise only in the person who, being endowed with Eye Transparent Element Cakkhu Pasāda, has the condition for Cakkhusamphassa to arise.  Pañcadvārāvajjana which reflect on the Rūpārammaṇa can never arise in the person who, being lacked of Eye Transparent Element Cakkhu Pasāda, has no condition for Cakkhusamphassa to arise.  This is because the whole Cakkhudvāra vīthi cannot arise in the person who does not have Eye Transparent Element.  Thus, by means of metaphor, it should be said that the Vedanā accompanying with Pañcadvārāvajjana is produced by Cakkhusamphassa.  Take note that it is the same in Sotasamphassa supporting the Vedanā accompanying with Pañcadvārāvajjana…etc.

Tuy nhiên, Pañcadvārāvajjana, cái phản chiếu Rūpārammaṇa, chỉ có thể sanh nơi một người có được Nhãn Tịnh Sắc Cakkhu Pasāda,  có điều kiện cho Cakkhusamphassa sanh. Pañcadvārāvajjana, cái phản chiếu Rūpārammaṇa, không thể sanh nơi một người thiếu Nhãn Tịnh Sắc Cakkhu Pasāda, vì không có điều kiện để cho Cakkhusamphassa sanh. Đây là vì tất cả Cakkhudvāra Vīthi không thể sanh nơi một người không có Nhãn Tịnh Sắc. Như vậy, theo nghĩa ẩn dụ, điều này nên được xem là Vedanā đồng sanh trong Pañcadvārāvajjana được tạo nên bởi Cakkhusamphassa. Lưu ý rằng điều này cũng tương tự như cách Sotasamphassa hỗ trợ cho Vedanā đồng sanh với Pañcadvārāvajjana…

According to these explanations, take note that Vedanā produced by Cakkhusamphassa are all Vedanā existing in both the whole Cakkhudvāra Vīthi and the whole Manodvāra Vīthi which continue to take the Rūpārammaṇa as object.  All these Vedanā are Cakkhusamphassa Vedanā.  Having seen by insight that ‘because of Cakkhusamphassa, Cakkhusamphassajā Vedanā arises’, discern as follows throughout the line (according to the Nāma Kammaṭṭhāna Tables) one after another.  Discern similarly in ‘because of Sotasamphassa, Sotasamphassajā Vedanā arises’…..etc

Theo những giải thích này, lưu ý rằng Vedanā tạo nên bởi Cakkhusamphassa là tất cả Vedanā có mặt trong toàn bộ cả Cakkhudvāra Vīthi và toàn bộ Manodvāra Vīthi là tiến trình tiếp tục lấy Rūpārammaṇa đó làm đối tượng. Tất cả những Vedanā này là Cakkhusamphassa Vedanā. Sau khi thấy bằng minh sát rằng ‘bởi Cakkhusamphassa, Cakkhusamphassajā Vedanā sanh’, quán toàn bộ dòng (theo như bảng Nāma Kammaṭṭhāna) từng dòng một. Quán tương tự với ‘bởi Sotasamphassa, Sotasamphassajā Vedanā sanh’…

1) Because of the arising of Cakkhusamphassa, Cakkhusamphassajā Vedanā arises.

1) Bởi sự sanh của Cakkhusamphassa, Cakkhusamphassajā Vedanā sanh.

     Cakkhusamphassa is the Cause, Cakkhusamphassajā Vedanā is the Effect.

Cakkhusamphassa là Nhân, Cakkhusamphassajā Vedanā là Quản.

2) Because of the arising of Sotasamphassa, Sotasamphassajā Vedanā  arises.

2) Bởi sự sanh của Sotasamphassa, Sotasamphassajā Vedanā sanh.

     Sotasamphassa is the Cause, Sotasamphassajā Vedanā  is the Effect.

Sotasamphassa là Nhân, Sotasamphassajā Vedanā là Quả.

3) Because of the arising of Ghānasamphassa, Ghānasamphassajā Vedanā  arises.

3) Bởi sự sanh của Ghānasamphassa, Ghānasamphassajā Vedanā sanh.

     Ghānasamphassa is the Cause, Ghānasamphassajā Vedanā is the Effect.

Ghānasamphassa là Nhân, Ghānasamphassajā Vedanā là Quả.

4) Because of the arising of Jivhāsamphassa, Jivhāsamphassajā Vedanā  arises.

4) Bởi sự sanh của Jivhāsamphassa, Jivhāsamphassajā Vedanā sanh.

     Jivhāsamphassa is the Cause, Jivhāsamphassajā Vedanā  is the Effect.

Jivhāsamphassa là Nhân, Jivhāsamphassajā Vedanā là Quả.

5) Because of the arising of Kāyasamphassa, Kāyasamphassajā Vedanā arises.

5) Bởi sự sanh của Kāyasamphassa,  Kāyasamphassajā Vedanā sanh.

     Kāyasamphassa is the Cause, Kāyasamphassajā Vedanā is the Effect.

Kāyasamphassa là Nhân, Kāyasamphassajā Vedanā là Quả.

6) Because of the arising of Manosamphassa, Manosamphassajā Vedanā  arises.

6) Bởi sự sanh của Manosamphassa, Manosamphassajā Vedanā sanh.

     Manosamphassa is the Cause, Manosamphassajā Vedanā is the Effect.

Manosamphassa là Nhân, Manosamphassajā Vedanā là Quả.

Manosamphassa

 Manosamphassa

Manosamphassoti bhavaṅgasahajāto samphasso.  Vedayitanti sahāvajjanavedanāya javanavedanā.  Bhavaṅgasampayuttāya pana vattabbameva natthi(Saṁyutta Commentary-Vol. III-5, Burmese script).

Manosamphassoti bhavaṅgasahajāto samphasso. Vedayitanti sahāvajjanavedanāya javanavedanā. Bhavaṅgasampayuttāya pana vattabbameva natthi (Saṁyutta Commentary-Vol. III-5, Burmese script).

In accordance with the above Commentary, Phassa which accompanies with the Bhavaṅga preceding to ManodvāraVīthis is Manosamphassā.  Vedanā accompanying with the Manodvārāvajjana, Javana (, Tadārammaṇa) which exist in Manodvāra Vithis are Manosamphassajā Vedanā.  Because of the preceding Bhavaṅga Manosamphassa, the subsequent Bhavaṅga Manosamphassajā Vedanā can arise.  Take note that because of Sahajāta Bhavaṅga Manosamphassa, Sahajāta Manosamphassajā Vedanā can also arise.  As ManodvāraVīthi can take as object any of the 6 objects accordingly, discern the 6 objects accordingly.  Phassa accompanying with Bhavaṅga together with Manodvārāvajjana is also mentioned in another way as Manosamphassa.  Because of that Manosamphassa, Manosamphassajā Vedanās accompanying with Javana (, Tadārammaṇa) arise (Saṁyutta Commentary-Vol.III-5,  Burmese script).  Discern to realize it by insight.

Theo đoạn Chú Giải ở trên, Phassa đồng sanh với Bhavaṅga trước ManodvāraVīthi là Manosamphassa. Vedanā đồng sanh với Manodvārāvajjana, Javana, (, Tadārammaṇa) có mặt trong Manodvāra Vīthi là Manosamphassajā Vedanā. Bởi Bhavaṅga Manosamphassa sanh trước, Bhavaṅga Manosamphassajā Vedanā sanh sau có thể sanh. Lưu ý rằng bởi Sahājata Bhavaṅga Manosamphassa, Sahajāta Manosamphassajā Vedanā cũng có thể sanh. Vì ManodvāraVīthi có thể lấy đối tượng là bất kỳ 1 trong 6 loại đối tượng, quán theo 6 loại đối tượng. Phassa đồng sanh với Bhavaṅga cùng với Manodvārāvajjana cũng được đề cập theo một cách khác là Manosamphassa. Bởi Manosamphassa đó, Manosamphassajā Vedanā đồng sanh với Javana (, Tadārammaṇa) sanh. (Saṁyutta Commentay-Vol.III-5, Burmeses script). Quán minh sát để thấy rõ điều này.

VEDANĀPACCAYĀ  TAṆHĀ

VEDANĀPACCAYĀ TĀṆHĀ

(Because of the arising of Vedanā, Taṇhā arises)

(Bởi sự sanh của Vedanā, Taṇhā sanh)

The 6 types of Taṇhā which are produced by the 6 types of Vedanā are Rūpataṇhā, Saddhataṇhā, Gandhataṇhā, Rasataṇhā, Phoṭṭhabbataṇhā and Dhammataṇhā (Abhidhamma-Bk.II-143).

6 loại Taṇhā được tạo nên bởi 6 loại Vedanā là Rūpataṇhā, Saddhataṇhā, Gandhataṇhā, Rasataṇhā, Phoṭṭhabbataṇhā và Dhammataṇhā (Abhidhamma-Bk.II-143).

In each of these Taṇhā it varies in 3 different types which are Kāmataṇhā, Bhavataṇhā and Vibhavataṇhā.  Rūpataṇhā arises, being much attached to the Rūpārammaṇa by means of Kāmassāda = much delighted on sensual objects(Vatthu Kāma).  At that time it is called Kāmataṇhā.

Mỗi Taṅha này lại chia thành 3 loại khác nhau như là Kāmataṇhā, Bhavataṇhā và Vibhavataṇhā. Rūpataṇhā sanh, do bị dính mắc nhiều đến Rūpārammaṇa theo cách Kāmassāda = nhiều ưa thích trên đối tượng (cảnh) dục (Vatthu Kāma). Lúc đó, nó được gọi là Kāmataṇhā.

When it arises together with Sassata diṭṭhi views that “that Rūpārammaṇa is permanent; it exists eternally” then at that time it is Bhavataṇhā.  It is right that the Rāga which arises together with Sassata diṭṭhi should be called Bhavataṇhā.

Khi nó sanh cùng với kiến Sassata diṭṭhi rằng “Rūpārammaṇa là thường, nó tồn tại vĩnh viễn” thì lúc đó nó là Bhavataṇhā. Đúng là Rāga sanh lên cùng với Sassata diṭṭhi thì nên được gọi là Bhavataṇhā.

Then, when it arises together with Uccheda diṭṭhi views that “if one dies, that Rūpārammaṇa is ended and destroyed”,  at that time it is Vibhavataṇhā.  It is right that the Rāga which arises together with Uccheda diṭṭhi should be called Vibhavataṇhā.  Take note that the method is the same in Saddataṇhā…etc (Abhidhamma Commentary-Vol.II-170,171  Burmese script) (Vism., XVII, 235)

Kế đến, khi nó sanh cùng với kiến Uccheda diṭṭhi rằng “nếu một người chết, Rūpārammaṇa cũng bị chấm dứt và bị hủy diệt”, lúc đó nó là Vibhavataṇhā. Đúng là Rāga sanh lên cùng với Uccheda diṭṭhi thì nên được gọi là Vibhavataṇhā. Lưu ý rằng phương pháp này cũng tương tự cho Saddataṇhā… (Abhidhamma Commentary-Vol.II-170,171 Burmese scrip) (Vism.,XVII, 235)

Bhavataṇhā:-  (Bhavatīti bhavo.  Bhavoti pavattā diṭṭhi bhavadiṭṭhi.  Bhavena sahagatā taṇhā bhavataṇhā.)  Having held the view that any of the object such as Rūpārammaṇa, Saddārammaṇa…etc is Atta then the view=Sassata diṭṭhi view that “that Atta is permanent” is called Bhava.  The Taṇhā which arises together with that Bhava is called Bhavataṇhā.

Bhavataṇhā:- (Bhavatīti bhavo. Bhavoti pavattā diṭṭhi bhavadiṭṭhi. Bhavena sahagatā taṇhā bhavataṇhā.) Nắm giữ kiến rằng bất kỳ đối tượng nào như Rūpārammaṇa, Saddārammaṇa,… là Atta thì kiến đó = kiến Sassata diṭṭhi cho rằng “Atta đó là thường” thì được gọi là Bhava. Taṇhā sanh chung với Bhava đó được gọi là Bhavataṇhā.

Vibhavataṇhā:-  (Na bhavatīti vibhavo, vibhavoti pavattā diṭṭhi vibhavadiṭṭhi, vibhavena sahagatā taṇhā vibhavataṇhā)  Having held any of the 6 objects as “Atta” then the view=Uccheda diṭṭhi view that “that Atta is not permanent; if died then it is ended” is called Vibhava.  The Taṇhā which arises together with that Vibhava is called Vibhavataṇhā.

Vibhavataṇhā:- (Na bhavatīti vibhavo, vibhavoti pavattā diṭṭhi vibhavadiṭṭhi, vibhavena sahagatā taṇhā vibhavataṇhā) Nắm lấy bất kỳ đối tượng nào của 6 cảnh là “Atta” thì kiến đó = kiến Uccheda diṭṭhi cho rằng “Atta đó không thường hằng; nếu chết thì nó bị chấm dứt” thì được gọi là Vibhava. Taṇhā sanh lên cùng với Vibhava được gọi là Vibhavataṇhā.

Yasmā vātiādinā na kevalaṁ vipākasukhavedanā eva. tissopi pana vedanā vipākā visesena taṇhāya upanissayapaccayo, avisesena itarā cāti dasseti  (MūlaṬīka-Vol.II-120   Burmese script).

Yasmā vātiādinā na kevalaṁ vipākasukhavedanā eva. tissopi pana vedanā vipākā visesena taṇhāya upanissayapaccayo, avisesena itarā cāti dasseti (MūlaṬīka-Vol.II-120 Burmese script).

Kammaphalābhipatthanāvasena sattā kammānipi āyūhantīti sātisayaṁ taṇhāya vipākavedanā upanissayo, na tatthā itarāti āha “vipākā visesena…..avisesena itarā cā”ti.  Itarāti avipākāti attho (Anuṭīka-Vol.II-132).

Kammaphalābhipatthanāvasena sattā kammānipi āyūhantīti sātisayaṁ taṇhāya vipākavedanā upanissayo, na tatthā itarāti āha “vipākā visesena…..avisesena itarā cā“ti. Itarāti avipākāti attho (Anuṭīka-Vol.II-132).

Living beings do & accumulate Kamma with great wish for the Effect of the Kamma.  Therefore the above Commentary and Subcommentary mentioned that only the Vipāka Vedanā which accompany with PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa in Vīthis such as CakkhudvāraVīthi specifically (visesa)support Taṇhā=Lobha included in Lobha Mūla Cittuppāda by means of powerful Upanissaya Paccaya Satti; and Āvajjjana, Votthapana and Javana Vedanās support generally (avisesa) only by means of UpanissayaPaccayaSatti.

Các chúng sanh làm & tích tập Kamma với ước nguyện to lớn về Quả của Kamma. Vì vậy Chú Giải và Phụ Chú Giải ở trên đề cập rằng chỉ Vipāka Vedanā đồng sanh với PañcaViññāṇa, Sampaṭicchana, Santīraṇa, Tadārammaṇa trong các Vīthi như là CakkhudvāraVīthi  hỗ trợ riêng (visesa) cho Taṇhā = Lobha có trong Lobha Mūla Cittuppāda bằng năng lực của Upanissaya Paccaya Satti; và với Āvajjjana, Votthapana và Javana Vedanā thì là hỗ trợ chung (avisesa) chỉ bằng cách UpanissayaPaccayaSatti.

As mentioned like that, take note that the Cause Vedanā and the Effect Taṇhā can arise in one Vīthi Citta process or separated by many Vīthi Citta processes.  Therefore take the Vedanās accompanying with every mind moment of Cakkhudvāra Vīthi and the Vedanās accompanying with every mind moment existing in the Manodvāra Vīthi (which continues to take the Rūpārammaṇa as object) as “Cakkhusamphassajā Vedanā” which is the Cause, i.e. being the Cause of the craving for Rūpārammaṇa- Rūpataṇhā- accordingly.  Understand that the method is the same in discerning Sotasamphassajā Vedanā which is the Cause of Saddataṇhā…etc.

Như được đề cập ở trên, lưu ý rằng Nhân Vedanā và Quả Taṇhā có thể sanh trong một lộ Vīthi Citta hay tách rời bởi các tiến trình Vīthi Citta. Vì vậy lấy các Vedanā đồng sanh với mỗi sát-na tâm của Cakkhudvāra Vīthi và các Vedanā đồng sanh trong mỗi sát-na hiện diện trong Manodvāra Vīthi (là tiến trình tiếp tục lấy cảnh là Rūpārammaṇa đó) là “Cakkhusamphassajā Vedanā” là Nhân, tức là Nhân của tham ái Rūpārammaṇa – Rūpataṇhā. Cần hiểu rằng phương pháp này cũng tương tự như cách quán Sotasamphassajā Vedanā là Nhân của Saddataṇhā…

Take note that, as Vipāka Vedanā is mainly taken as the Cause, the Cause Vedanā and the Effect Taṇhā mostly do not arise in one mind moment but may be separated by one or many mind moment; or by many Vīthis.

Lưu ý rằng, vì Vipāka Vedanā được chủ yếu lấy làm Nhân, Nhân Vedanā và Quả Taṇhā hầu như không sanh lên trong cùng một sát-na tâm nhưng bị tách biệt bởi một hay nhiều sát-na tâm, hay bởi nhiều Vīthi.

Anāgāta Vaṭṭa Kathā

Anāgāta Vaṭṭa Kathā

As this stage mentions about the VaṭṭaKathā=going round in Saṁsarā, it only concern the activities being done and accumulated with the aspiration for Future life in the meditator.  Therefore discern mainly that because of the arising of the Vedanā which is feeling for the new Future life, Taṇhā which is attachment to the new Future life arises.  This Taṇhā together with Upādāna and Kamma Bhava (which will be explained later) are the Present Causes which are Avijjā-Taṇhā-Upādāna-Saṅkhāra-Kamma being done and accumulated with aspiration for a new Future life which can be obtained before Nibbāna is attained.  Therefore the meditator is to discern mainly the (Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-(Saṅkhāra)-Kamma being done and accumulated for his own Future life only.

Vì giai đoạn này đề cập về VaṭṭaKathā = luân chuyển trong Saṁsarā, nó chỉ liên quan đến những hoạt động đang được làm và tích tập với nguyện ước về kiếp sống Vị lai của thiền giả. Vì vậy, quán chủ yếu rằng bởi sự sanh của Vedanā là cảm thọ cho kiếp sống Vị lai, Taṇhā là sự dính mắc vào kiếp Vị lai sanh. Taṇhā này cùng với Upādāna và Kamma Bhava (sẽ được giải thích sau) là Nhân Hiện tại tức là Avijjā – Taṇhā – Upādāna – Saṅkhāra- Kamma đang được làm và tích tập với ước nguyện về một kiếp Vị lai có thể có được trước khi giác ngộ Nibbāna. Vì vậy hành giả quán chủ yếu (Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-(Saṅkhāra)-Kamma đang được làm và tích lũy chỉ cho kiếp sống Vị lai của chính vị ấy.

Some of the discernment

Một Vài Phép Quán.

1) Because of the arising of Cakkhusamphassajā Vedanā, Rūpa Taṇhā arises.

1) Bởi sự sanh của Cakkhusamphassajā Vedanā, Rūpa Taṇhā sanh.

     Cakkhusamphassajā Vedanā is the Cause, Rūpa Taṇhā is the Effect.

Cakkhusamphassajā Vedanā là Nhân, Rūpa Taṇhā là Quả.

2) Because of the arising of Sotasamphassajā Vedanā, Sadda Taṇhā arises.

2) Bởi sự sanh của Sotasamphassajā Vedanā, Sadda Taṇhā sanh.

     Sotasamphassajā Vedanā is the Cause, Sadda Taṇhā is the Effect.

Sotasamphassajā Vedanā là Nhân, Sadda Taṇhā là Quả.

3) Because of the arising of Ghānasamphassajā Vedanā, Gandha Taṇhā arises.

3) Bởi sự sanh của Ghānasamphassajā Vedanā, Gandha Taṇhā sanh.

     Ghānasamphassajā Vedanā is the Cause, Gandha Taṇhā is the Effect.

Ghānasamphassajā Vedanā là Nhân, Gandha Taṇhā là Quả.

4) Because of the arising of Jivhāsamphassajā Vedanā, Rasa Taṇhā arises.

4) Bởi sự sanh của Jivhāsamphassajā Vedanā, Rasa Taṇhā sanh.

     Jivhāsamphassajā Vedanā is the Cause, Rasa Taṇhā is the Effect.

Jivhāsamphassajā Vedanā là Nhân, Rasa Taṇhā là Quả.

5) Because of the arising of Kāyasamphassajā Vedanā, Phoṭṭhabba Taṇhā arises.

5) Bởi sự sanh của Kāyasamphassajā Vedanā, Phoṭṭhabba Taṇhā sanh

     Kāyasamphassajā Vedanā is the Cause, Phoṭṭhabba Taṇhā is the Effect.

Kāyasamphassajā Vedanā là Nhân, Phoṭṭhabba Taṇhā là Quả.

6) Because of the arising of Manosamphassajā Vedanā, Dhamma Taṇhā arises.

6) Bởi sự sanh của Manosamphassajā Vedanā, Dhamma Taṇhā sanh.

     Manosamphassajā Vedanā is the Cause, Dhamma Taṇhā is the Effect.

Manosamphassajā Vedanā là Nhân, Dhamma Taṇhā là Quả.

Dhammataṇhā:-  Dhammataṇhā is the Taṇhā attachment to Citta, Cetasika, Rūpa dhamma (except the 5 objects which are Colour, Sound, Smell, Taste and Tangible) and various Paññatti objects.

Dhammataṇhā: – Dhammataṇhā là Taṇhā tham ái đối với Citta, Cetasika, Rūpa dhamma (ngoại trừ 5 cảnh như là Màu, Âm thanh, Mùi, Vị, Xúc) và các loại cảnh Paññatti khác nhau.

TAṆHĀPACCAYĀ UPĀDĀNAṂ

TAṆHĀPACCAYĀ UPĀDĀNAṀ

(Because of the arising of Taṇhā, Upādāna arises)

 (Bởi sự sanh của Taṇhā, Upādāna sanh.)

There are 4 types of Upādāna which are:  (1) Kāmupādāna, (2) Diṭṭhupādāna, (3) Sīlabbatupādāna and (4) AttaVādupādāna.

Có 4 loại Upādāna như sau: (1) Kāmupādāna, (2) Diṭṭhupādāna, (3) Sīlabbatupādāna và (4) AttaVādupādāna.

(1) Kāmupādāna:-  Taṇhā craving for the 5 sense Kāma objects is called Kāma Taṇhā.  The subsequent Kāma Taṇhā which is firm and strong as it is supported by the preceding intense Kāma Taṇhā by means of Upanissaya Paccaya Satti is called Kāmupādāna.

(1) Kāmupādāna:- Taṇha tham ái đối với 5 loại đối tượng Kāma thì gọi là Kāma Taṇhā. Kāma Taṇhā sanh sau mà vững chắc và mạnh mẽ vì nó được hỗ trợ bởi sự sung mãn của Kāma Taṇhā trước đó bằng Upanissaya Paccaya Satti thì được gọi là Kāmupādāna.

(2) Diṭṭhupādāna:-  The subsequent Diṭṭhi which holds firmly to wrong views Miccha Diṭṭhi such as Natthika Diṭṭhi, Ahetuka Diṭṭhi, Akiriya Diṭṭhi (except Sīlabbatupādāna and AttaVādupādāna) which reject Kamma and its Effect, believing that there is no result of Kamma is Diṭṭhupādāna.

(2) Diṭṭhupādāna:- Diṭṭhi sanh sau mà chấp thủ vững chắc và mạnh mẽ đối với tà kiến Miccha Diṭṭhi như là Natthika Diṭṭhi, Ahetuka Diṭṭhi, Akiriya Diṭṭhi (ngoại trừ Sīlabbatupādāna và AttaVādupādāna) tức là các kiến bác bỏ Nghiệp và Quả, tin rằng không có kết quả của Kamma là Diṭṭhupādāna.

(3) Sīlabbatupādāna:-  The wrong view Miccha Diṭṭhi which holds firmly the view that by practising practices such as Dog Practice, Ox Practice….etc one can be purified from Kilesa and can be freed from Saṁsāra is called Sīlabbatupādāna.

(3) Sīlabbatupādāna:- tà kiến Miccha Diṭṭhi chấp chặt kiến rằng bằng cách tu tập như Hạnh con Chó, Hạnh con Bò… mà một người có thể được thanh tịnh khỏi các Kilesa và có thể thoát khỏi Saṁsāra thì gọi là Sīlabbatupādāna.

(4) AttaVādupādāna:-  The wrong view which holds firmly that there is Atta (=soul) is AttaVādupādāna.  The view holds that there is Creator, Parama Atta and the Created, Jīva Atta; it also holds that either one or all 5 Khandhas is Atta.  This is also called Sakkāya Diṭṭhi and Atta Diṭṭhi.

(4) AttaVādupādāna: – tà kiến chấp chặt rằng có Atta (= linh hồn) là AttaVādupādāna. Kiến chấp rằng có Đấng tạo hóa, Đại Ngã (Parama Atta) và Tạo vật,  Jīva Atta (mạng ngã); kiến này chấp rằng một hay tất cả 5 Khandha là Atta. Nó còn được gọi là Sakkāya Diṭṭhi và Atta Diṭṭhi.

In this stage the meditator must discern to realize by insight that because of Taṇhā, which is part of Kilesa Vaṭṭa and is being accumulated especially with the aspiration for Future life, Upādāna arises.  Let’s say, if the meditator is accumulating Kilesa vaṭṭa and Kamma Vaṭṭa with the aspiration to attain life as Dhamma Teaching Deity (Dhamma Kathika Deva), then  after having seen by insight that ‘with the Kāma Taṇhā, craving for the animate and inanimate sense objects (Kāma Vatthu) which will be obtained in the Dhamma Teaching Deity life as the fundamental cause, Kāmupādāna arises’ (=having Kāma Taṇhā– craving for Dhamma Teaching Deity life– as the fundamental cause, Kāmupādāna — clinging to Dhamma Teaching Deity life — arises), discern as follows:

Trong giai đoạn này hành giả phải tách bạch để thấy rõ bằng minh sát rằng bởi Taṇhā, là một phần của Kilesa Vaṭṭa, đang được tích tập đặc biệt với ước nguyện cho kiếp sống Vị lai, Upādāna sanh. Có thể nói, nếu một hành giả đang tích tập Kilesa Vaṭṭa và Kamma Vaṭṭa với ước nguyện để đạt đến kiếp sống là Chư Thiên Giảng Pháp (Dhamma Kathika Deva), kế đến sau khi thấy bằng minh sát rằng ‘với Kāma Taṇhā, tham ái đối với cảnh dục linh động hay không linh động (Kāma Vatthu) sẽ đạt được trong kiếp sống Chư Thiên Giảng Pháp là Nhân Chủ yếu, Kāmupādāna sanh’ (= có Kāma Taṇhā – tham ái với kiếp sống Chư Thiên Giảng Pháp – là nhân căn bản, Kāmupādāna – chấp thủ vào kiếp sống Chư Thiên Giảng Pháp – sanh), quán như sau đây:

1) Because of the arising of Kāma Taṇhā, Kāmupādāna arises.

1) Bởi sự sanh của Kāma Taṇhā, Kāmupādāna sanh.

     Kāma Taṇhā is the Cause, Kāmupādāna is the Effect.

Kāma Taṇhā là Nhân, Kāmupādāna là Quả.

Another way of discernment:-  Holding the view that Dhamma Teaching Deity rightly exist is Sakkāya diṭṭhi.  In some cases, it is also called Loka Samaññā Atta view=Atta view using the common worldly vocabulary.  If the Bhava Taṇhā craving for Dhamma Teaching Deity life is accompanied with Sakkāya Diṭṭhi=Atta Diṭṭhi which holds the view as (there is) “Dhamma Teaching Deity”, then after having seen by insight that because of that Bhava Taṇhā, AttaVādupādāna or Diṭṭhupādāna arises discern as follows:

Cách quán khác:- Chấp giữ kiến rằng Chư Thiên Giảng Pháp thực sự hiện hữu là Sakkāya diṭṭhi. Trong 1 số trường hợp, nó còn được gọi là kiến Loka Samaññā Atta = kiến Atta dùng ngôn ngữ thế gian. Nếu Bhava Taṇhā dính mắc vào kiếp sống Chư Thiên Giảng Pháp đi kèm với Sakkāya Diṭṭhi = Atta Diṭṭhi chấp giữ kiến rằng (có) “Chư Thiên Giảng Pháp”, rồi kế đến sau khi thấy bằng minh sát rằng do bởi Bhava Taṇhā đó, AttaVādupādāna hay Diṭṭhupādāna sanh. Quán như sau:

2) Because of the arising of Bhava Taṇhā, AttaVādupādāna arises.

2) Bởi sự sanh của Bhava Taṇhā, AttaVādupādāna sanh.

     Bhava Taṇhā is the Cause, AttaVādupādāna is the Effect.

Bhava Taṇhā là Nhân, AttaVādupādāna là Quả.

or,

hay

     Because of the arising of Bhava Taṇhā, Diṭṭhupādāna arises.

Bởi sự sanh của Bhava Taṇhā, Diṭṭhupādāna sanh.

     Bhava Taṇhā is the Cause, Diṭṭhupādāna is the Effect.

Bhava Taṇhā là Nhân, Diṭṭhupādāna là Quả.

Another Type Of Discernment

Cách Quán Khác

A) The RūpaTaṇhā which is being extremely delighting in the Rūpārammaṇa which             will be obtained in the Dhamma Teaching Deity life is called Kāma Taṇhā.

A) RūpaTaṇhā vô cùng thích thú đối với Rūpārammaṇa sẽ đạt được trong kiếp sống Chư Thiên Giảng Pháp gọi là Kāma Taṇhā.

B) The Rūpa Taṇhā that arises together with the Sassata Diṭṭhi which holds the      Rūpārammaṇa as ‘permanent, eternal’ is Bhava Taṇhā.

B) Rūpa Taṇhā sanh cùng với Sassata Diṭṭhi chấp chặt rằng Rūpārammaṇa là ‘thường, vĩnh cửu’ là Bhava Taṇhā.

C) The Rūpa Taṇhā that arises together with Uccheda Diṭṭhi which holds the view that        the Rūpārammaṇa is ended and ceased when one dies is Vibhava Taṇhā.

C) Rūpa Taṇhā sanh cùng với Uccheda Diṭṭhi chấp chặt kiến rằng Rūpārammaṇa bị chấm dứt và bị tiêu diệt khi một người chết chính là Vibhava Taṇhā.

In this way, Rūpa Taṇhā are of three types which are Kāma Taṇhā, Bhava Taṇhā and Vibhava Taṇhā.  Similarly each of the Sadda TaṇhāDhamma Taṇhā are also of these three types.  The discernment:

Theo cách này, Rūpa Taṇhā gồm ba loại Kāma Taṇhā, Bhava Taṇhā và Vibhava Taṇhā. Tương tự cho Sadda Taṇhā… Dhamma Taṇhā cũng bao gồm ba loại này. Quán:

1) Because of the arising of Rūpa-(Kāma) Taṇhā, Kāmupādāna arises.

1) Bởi sự sanh của Rūpa-(Kāma) Taṇhā, Kāmupādāna sanh.

     Rūpa-(Kāma) Taṇhā is the Cause, Kāmupādāna is the Effect.

Rūpa-(Kāma) Taṇhā là Nhân, Kāmupādāna là Quả.

2) Because of the arising of Rūpa-(Bhava) Taṇhā, Diṭṭhupādāna arises.(Sassata diṭṭhi)

2) Bởi sự sanh của Rūpa-(Bhava) Taṇhā, Diṭṭhupādāna sanh. (Sassata diṭṭhi)

     Rūpa-(Bhava) Taṇhā is the Cause, Diṭṭhupādāna is the Effect.

Rūpa-(Bhava) Taṇhā là Nhân, Diṭṭhupādāna là Quả.

3) Because of the arising of Rūpa-(Vibhava) Taṇhā, Diṭṭhupādāna arises.(Uccheda       diṭṭhi)

3) Bởi sự sanh của Rūpa-(Vibhava) Taṇhā, Diṭṭhupādāna sanh. (Uccheda diṭṭhi)

     Rūpa-(Vibhava) Taṇhā is the Cause, Diṭṭhupādāna is the Effect.

Rūpa-(Vibhava) Taṇhā là Nhân, Diṭṭhupādāna là Quả.

Another way:-  As both the Bhava Taṇhā which accompanies with Sassata Vāda and the Vibhava Taṇhā which accompanies with Uccheda Vāda are based on Atta Vāda = the Taṇhā which comes to arise having held that Rūpārammaṇa as ‘Atta’, it can be discerned as follows:

Cách khác:- Vì cả Bhava Taṇhā, đi cùng với Sassata Vāda, và Vibhava Taṇhā, đi cùng với Uccheda Vāda, đều dựa trên Atta Vāda = Taṇhā sanh lên sau khi chấp rằng Rūpārammaṇa là ‘Atta’, nó có thể được quán như sau:

1) Because of the arising of Rūpa-(Bhava) Taṇhā, AttaVādupādāna arises.

1) Bởi sự sanh của Rūpa-(Bhava) Taṇhā, AttaVādupādāna sanh.

     Rūpa-(Bhava) Taṇhā is the Cause, AttaVādupādāna is the Effect.

Rūpa-(Bhava) Taṇhā là Nhân, AttaVādupādāna là Quả.

2) Because of the arising of Rūpa-(Vibhava) Taṇhā, AttaVādupādāna arises.

2) Bởi sự sanh của Rūpa-(Vibhava) Taṇhā, AttaVādupādāna sanh.

     Rūpa-(Vibhava) Taṇhā is the Cause, AttaVādupādāna is the Effect.

Rūpa-(Vibhava) Taṇhā là Nhân, AttaVādupādāna là Quả.

Discern Sadda TaṇhāDhamma Taṇhā base on the same method.  Let’s say, if the meditator is accumulating the Pāramī seed with the aspiration to attain life as a monk in the Future life who can propagate the Sāsanā then discern it base on the method for discerning the Dhamma Teaching Deity life as mentioned above.  Sīlabbatupādāna is rare to arise in disciples of the Buddha (i.e. Buddhist).

Quán từ Sadda Taṇhā đến Dhamma Taṇhā dựa trên cùng phương pháp. Có thể nói, nếu hành giả tích tập hạt giống Pāramī với ước nguyện đạt đến cuộc sống của một nhà sư trong kiếp sống Vị lai là người có thể truyền bá Sāsanā thì quán dựa trên cùng phương pháp như đối với việc quán Chư Thiên Giảng Pháp như đã đề cập ở trên. Sīlabbatupādāna rất hiếm sanh khởi ở nơi các đệ tử của Đức Phật (tức là Phật tử).

The Vīthis of Taṇhā and UpādānaManodvāraVīthi

Vīthi của Taṇhā và Upādāna ManodvāraVīthi

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

Rūpa-(Kāma) Taṇhā

12

20

12\11\34\33

Upādāna

12

20

12\11\34\33

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

Rūpa-(Kāma) Taṇhā

12

20

12\11\34\33

Upādāna

12

20

12\11\34\33

Javana and Tadārammaṇa in which Pīti is not included can sometimes arise.   Discern precisely in the Kilesa Vaṭṭa group which is being accumulated for the Future.

Javana và Tadārammaṇa không có Pīti đi kèm thỉnh thoảng có thể sanh. Quán kỹ trong nhóm Kilesa Vaṭṭa đang được tích lũy cho Vị lai.

Take Note

Lưu Ý

It is very difficult for Diṭṭhupādāna, Sīlabbatupādāna and Attavādupādāna to arise in a meditator whose insight has attained up till NāmaRūpaParicchedañāṇa and Paccayapariggahañāṇa.  Mostly, only Kāmupādāna arises.  Therefore it may be enough to discern only ‘because of Taṇhā, Kāmupādāna arises’.

Diṭṭhupādāna, Sīlabbatupādāna và Attavādupādāna rất khó có thể sanh lên ở nơi một hành giả có tuệ minh sát đạt đến giai đoạn NāmaRūpaParicchedañāṇa và Paccayapariggahañāṇa. Hầu hết, chỉ có Kāmupādāna sanh. Bởi vậy, chỉ cần quán ‘Bởi Taṇhā, Kāmupādāna sanh’ là đủ.

However there is no Kilesa nor any Upādāna which has never arisen before in the NāmaRūpa continuity process of a living being in the beginningless rounds of Saṁsarā.  Therefore in discerning that ‘because of the arising of the Past Cause, the Past Effect arises’, the meditator is to discern the arising of the various Diṭṭhi and various Upādāna produced by Taṇhā as they arose in those lives.

Tuy nhiên, không có Kilesa nào hay Upādāna nào chưa từng sanh trước đó trong dòng tiến trình NāmaRūpa của một chúng sanh ở trong vòng Saṁsarā không có điểm khởi đầu. Bởi vậy, khi quán rằng ‘bởi sự sanh của Nhân Quá khứ, Quả Quá khứ sanh’, hành giả cũng cần quán sự sanh của nhiều loại Diṭṭhi và nhiều loại Upādāna được tạo nên bởi Taṇhā khi chúng sanh lên trong những  kiếp sống đó.

UPĀDĀNAPACCAYĀ BHAVO

UPĀDĀNAPACCAYĀ BHAVO

(Because of the arising of Upādāna, Bhava arises)

(Bởi sự sanh của Upādāna, Bhava sanh)

Bhava:-  There are 2 types of Bhava–(1) Kamma Bhava and (2) Upapatti Bhava.  Kamma Bhava is the cause of arising; Upapatti Bhava is the arising (becoming).

Bhava:- Có 2 loại Bhava — (1) Kamma Bhava và (2) Upapatti Bhava. Kamma Bhava là nhân của sự sanh khởi; Upapatti Bhava là sự sanh khởi (hữu).

The Kusala Kamma or Akusala Kamma which are being accumulated in the Present life with an aspiration for Future life is called Kamma Bhava.  This is the Cause of arising Bhava; this is the Cause of arising.  The Vipāka 4 Nāmakkhandhā and Kammaja Rūpa which are going to arise in the Future produced by that Kusala Kamma or Akusala Kamma are called Upapatti Bhava.  These are the arising (becoming) Bhava; these are the arising (becoming).

Kusala Kamma hay Akusala Kamma được tích tập trong kiếp hiện tại với ước nguyện cho kiếp Tương lai được gọi là Kamma Bhava. Đây là Nhân của sự sanh khởi Bhava; đây là Nhân của sự sanh lên. 4 Vipāka Nāmakkhandā và Kammaja Rūpa sẽ sanh lên trong Tương lai được tạo bởi Kusala Kamma hay Akusala Kamma đó được gọi là Upapatti Bhava. Đây là sự sanh khởi (hữu) Bhava; đây là sự khởi lên (hữu).

The Saṅkhāra=Kamma–which are the Puññābhisaṅkhāra or Apuññābhisaṅkhāra or Āneñjābhisaṅkhāra being accumulated in the Present life to obtain the Upapatti Bhava i.e. the Vipāka Nāmakkhandhā and Kammaja Rūpa that are going to arise in the Future life–is called Kamma Bhava.  The meditator must discern to realize by insight that by having the (Avijjā, Taṇhā) Upādāna as the fundamental Cause of those Kamma Bhava & Upapatti Bhava, they(the Kamma Bhava & Upapatti Bhava)   arise.  In “Kamma Bhava”, discern mainly the Kusala Nāma group where the Kusala Cetanā is predominant  and is being accumulated for one’s Future life.

Saṅkhāra = Kamma – là Puññābhisaṅkhāra hay Apuññābhisaṅkhāra hay Āneñjābhisaṅkhāra đang được tích tập trong kiếp Hiện tại để đạt đến Upapatti Bhava, tức là Vipāka Nāmakkhandhā và Kammaja Rūpa sẽ sanh lên trong Vị lai– được gọi là Kamma Bhava. Hành giả phải quán để thấy rõ bằng minh sát rằng bởi có (Avijjā, Taṇhā) Upādāna làm Nhân căn bản của những Kamma Bhava & Upapatti Bhava đó, chúng (Kamma Bhava & Upapatti Bhava) sanh. Trong “Kamma Bhava”, quán chủ yếu nhóm Kusala Nāma nơi Kusala Cetanā nổi trội và đang được tích lũy cho kiếp Vị lai của hành giả.

One can also discern Akusala Cetanā group that has arisen.  One can discern that with Taṇhā attachment to misconduct Ducarita as the fundamental cause, Upādāna clinging to misconduct Ducarita arises;  with that Upādāna clinging as the fundamental cause, the committing of misconduct Ducarita Kamma=Akusala Saṅkhāra arise; because of that Akusala Kamma(Kamma Bhava), the 5 Khandha called Upapatti Bhava will arise in Apāya in the Future.

Hành giả cũng có thể quán nhóm Akusala Cetanā đã sanh. Vị ấy có thể quán nó với Taṇhā dính mắc vào các cấm (khổ) hạnh Ducarita làm nhân căn bản, Upādāna chấp thủ vào cấm hạnh Ducarita sanh; với  Upādāna chấp thủ đó làm nhân căn bản, sự thực hành các cấm hạnh Ducarita Kamma = Akusala Saṅkhāra sanh; bởi vì Akusala Kamma (Kamma Bhava) đó, 5 Khandha được gọi là Upapatti Bhava sẽ sanh lên ở nơi Apāya trong Vị lai.

It is very rare for AttaVādupādāna, Diṭṭhupādāna and Sīlabbatupādāna to arise in meditators who have reached this stage.  Mostly, only Kāmupādāna may arise.  It is the Kāmupādāna craving for the 5 Khandha or 6 sense objects of the Future life such as the monk’s life or Dhamma Teaching Deity’s life.  Discern to realize by insight that because of that Kāmupādāna, Kamma Bhava\Upapatti Bhava arise.

AttaVādupādāna, Diṭṭhupādāna và Sīlabbupādāna rất hiếm sanh lên nơi hành giả đã đạt đến giai đoạn này. Hầu hết, chỉ có Kāmupādāna có thể sanh. Ở đây là Kāmupādāna tham ái đối với 5 Khandha hay 6 cảnh dục của kiếp sống Vị lai như là kiếp sống của nhà sư hay Chư Thiên Giảng Pháp. Quán để thấy rõ bằng minh sát rằng bởi Kāmupādāna, Kamma Bhava\Upapatti Bhava sanh.

Essential Points

Những Điểm Quan Trọng

As this is the stage to discern the Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra, Kamma which are being accumulated with an aspiration for Future life, it is enough to take as object any single group of (Avijjā) Taṇhā, Upādāna, (Saṅkhāra) Kamma which is being accumulated for the new Future life.  It means any one of the Kamma from the many Kamma which are being accumulated with aspiration for  new Future life and which one remembers & preferred.  Therefore:

Vì đây là giai đoạn quán Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra, Kamma đang được tích lũy với nguyện ước về kiếp sống Vị lai, điều này là vừa đủ để lấy bất kỳ nhóm (Avijjā), Taṇhā, Upādāna, (Saṅkhāra) Kamma nào mà đang được tích tập cho kiếp sống Vị lai làm đối tượng. Nó có nghĩa là bất cứ một Kamma nào từ nhiều Kamma đang được tích tập với nguyện ước về kiếp sống Tương lai mà hành giả nhớ và ưa thích. Bởi vậy:

     1) the wrong knowing as a Future “monk life” or “Dhamma Teaching Deity life” is             Avijjā.,

1) Hiểu sai về một “kiếp sống nhà sư” hay “Chư Thiên Giảng Pháp” Vị lai là Avijjā,

     2) the craving for that life is Taṇhā,

2) Tham ái với kiếp sống đó là Taṇhā,

     3) the clinging to that life produced by that Taṇhā is Upādāna=Kāmupādāna,

3) Chấp thủ vào kiếp sống được tạo nên bởi Taṇhā là Upādāna = Kāmupādāna,

     4) with that Kāmupādāna as the fundamental cause, the Dāna or Sīla or Bhāvanā being accumulated  is Saṅkhāra and (5) Kamma=Kamma Bhava (it refers to Kamma Satti force).

4) Với Kāmupādāna đó làm nhân cơ bản, Dāna hay Sīla hay Bhāvanā đang được tích tập là Saṅkhāra và

5) Kamma = Kamma Bhava (ở đây là lực của Kamma Satti).

The monk life’s or Dhamma Teaching Deity life’s 5 Khandhā which will be obtained produced by that Kamma Bhava is Upapatti Bhava; this is the Future Jāti.

Năm Khandha của kiếp sống nhà sư hay Chư Thiên Giảng Pháp sẽ thành tựu được tạo nên bởi Kamma Bhava đó là Upapatti Bhava. Đây là Jāti của Vị lai.

If the meditator is a Samatha Yānika person, i.e. one who has Jhāna, then after having made an aspiration for or having inclined the mind towards the Brahmā state of existence (Bhava)\Brahmā Khandhā which is corresponding and appropriate to the Jhāna which he prefers –be it whether it is a lower Jhāna or a medium Jhāna or a superior Jhāna–, discern in the same way to realize that because of that Avijjā- Taṇhā-Upādāna-(Jhāna) Saṅkhāra-Kamma, the Brahmā Bhava\Brahmā Khandhā will be obtained.  For the meditators who still have Future rounds of Saṁsāra, the Upapatti Bhava which is the Brahmā Bhava\Brahmā Khandhā will be found.

Nếu hành giả là người thuộc Samatha Yānika, tức là người có Jhāna, thì sau khi thực hiện nguyện ước hay nghiêng tâm hướng đến địa vị Brahmā của sự hiện hữu (Bhava)\Brahmā Khandhā tương xứng hay thích hợp với Jhāna mà vị ấy ưa thích – có thể là Jhāna thấp hơn hay Jhāna trung hay Jhāna thượng – quán theo cùng cách để thấy rõ rằng bởi Avijjā – Taṇhā – Upādāna – (Jhāna) Saṅkhāra – Kamma, Brahmā Bhava\Brahmā Khandhā sẽ được thành tựu. Đối với hành giả vẫn còn có kiếp sống Vị lai trong Saṁsāra, Upapatti Bhava tức Brahmā Bhava\Brahmā Khandhā sẽ được tìm thấy.

The Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra and Kamma are not the same between each meditator.  The meditator is to discern  according to his own aspiration made or mental inclination, based on the same method for discerning the monk life or Dhamma Teaching Deity life mentioned above.

Avijjā, Taṇhā, Upādāna, Saṅkhāra và Kamma thì không giống nhau giữa các hành giả. Hành giả cần quán tùy theo nguyện ước của vị ấy hay khuynh hướng tâm của mình, dựa theo cùng phương pháp quán kiếp sống nhà sư hay Chư Thiên Giảng Pháp đã được đề cập ở trên.

Some of the discernment

Tiến Trình Quán

1) Because of the arising of Kāmupādāna, Kamma Bhava arises.

1) Bởi sự sanh của Kāmupādāna, Kamma Bhava sanh.

     Kāmupādāna is the Cause, Kamma Bhava is the Effect.

Kāmupādāna là Nhân, Kamma Bhava là Quả.

2) Because of the arising of Kamma Bhava, Upapatti Bhava arises  .

2) Bởi sự sanh của Kamma Bhava, Upapatti Bhava sanh.

     Kamma Bhava is the Cause, Upapatti Bhava is the Effect.

Kamma Bhava là Nhân, Upapatti Bhava là Quả.

Manodvārika Javana Vīthi Citta Process

Lộ Manodvārika Javana Vīthi Citta

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

1)Kāmupādāna

12

20

12\34

2)KammaBhava (Kusala)

12

34

34\12

3) Upapatti Bhava

The Future Khandhā produced by that KammaBhava

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

1)Kāmupādāna

12

20

12\34

2)KammaBhava (Kusala)

12

34

34\12

3) Upapatti Bhava

Khandhā Vị lai được tạo bởi KammaBhava đó.

For “Kamma Bhava” in the above Table, only Kusala Kamma Bhava is shown as an example.  However, the meditator is to discern the Kusala Kamma Bhava or Akusala Kamma which had arose, arise and will arise in one’s own NāmaRūpa process accordingly, in the 3 periods.  If it is Jhāna Kamma Bhava then understand that in:

Đối với “Kamma Bhava” ở Bảng trên, chỉ có Kusala Kamma Bhava được trình bày làm ví dụ. Tuy nhiên, hành giả còn phải quán Kusala Kamma Bhava hay Akusala Kamma đã sanh, đang sanh và sẽ sanh lên theo tiến trình NāmaRūpa của chính mình, trong 3 thời. Nếu đó là Jhāna Kamma Bhava thì nên hiểu rằng trong đó

     1) 1st Jhāna Kamma Bhava = 34

   1) Sơ thiền Jhāna Kamma Bhava = 34

     2) 2nd Jhāna Kamma Bhava = 32

   2) Nhị thiền Jhāna Kamma Bhava = 32

     3) 3rd Jhāna Kamma Bhava = 31

   3) Tam thiền Jhāna Kamma Bhava = 31

     4) 4th Jhāna Kamma Bhava = 31

   4) Tứ thiền Jhāna Kamma Bhava = 31

     5) Arūpa Jhāna Kamma Bhava = 31.

   5) Arūpa Jhāna Kamma Bhava = 31.

BHAVAPACCAYĀ JĀTI

BHAVAPACCAYĀ JĀTI

(Because of the arising of Bhava, Jāti arises)

(Bởi sự sanh của Bhava, Jāti sanh)

Bhavoti panettha kammabhavova adhippeto. so hi jātiyā paccayo na upapatti bhavo (Vism, XVII, 270) – In “Bhavapaccayā Jāti”, “Bhava” is the Kamma Bhava which can produce Jāti.  That Kamma Bhava is the true root cause of Jāti.  Upapatti is not the real cause of Jāti.

Bhavoti panettha kammabhavova adhippeto. so hi jātiyā paccayo na upapatti bhavo (Vism, XVII, 270) – trong “Bhavapaccayā Jāti”, “Bhava” là Kamma Bhava mà có thể tạo Jāti. Kamma Bhava là căn nguyên thực sự của Jāti. Upapatti không phải là nhân thật tạo nên Jāti.

Upapattibhavupapattiyeva jātīti āha “na upapatti bhavo” (Mahā Ṭīka-Vol.II-334, Burmese script) – as the arising of Upapatti Bhava is Jāti, the Commentary mentioned it as “Upapatti is not the real Cause of Jāti”.

Upapattibhavupapattiyeva jātīti āha “na upapatti bhavo” (Mahā Ṭīka-Vol.II-334, Burmese script) – bởi sự sanh của Upapatti Bhava là Jāti, Chú Giải đề cập rằng “Upapatti không phải là Nhân thật của Jāti”.

Therefore, as for “Jāti”, take the initial first arising of the Future 5 Khandhā called Upapatti Bhava as “Jāti”.  It means the beginning first arising of Paṭisandhi 5 Khandhā.

Bởi vậy, đối với Jāti, xem sự khởi lên ban đầu của 5 Khandha Vị lai được gọi là Upapatti Bhava là “Jāti”. Nghĩa là phần bắt đầu khởi sanh 5 Khandha Paṭisandhi .

Let’s say, if the meditator discerned by insight that because of the White Kasiṇa 4th Jhāna Kamma Bhava he will obtain the Future Brahmā Bhava Jāti.  Then, as there are no Nose Transparent Element, Tongue Transparent Element, Body Transparent Element and Bhāva Rūpa (Gender Determining Rūpa) in that Brahmā Bhava Jāti 5 Khandhā, he should be able to discern by insight the absence of Ghāna Dasaka Kalāpa, Jivhā Dasaka Kalāpa, Kāya Dasaka Kalāpa and Bhāva Dasaka Kalāpa.  Discern it carefully.

Có thể nói, nếu hành giả quán bằng minh sát rằng bởi Kamma Bhava Tứ thiền Kasiṇa Trắng vị ấy sẽ đạt được Brahmā Bhava Jāti Tương lai. Kế đến, vì không có Tỷ Tịnh Sắc, Thiệt Tịnh Sắc, Thân Tịnh Sắc và Bhāva Rūpa (Sắc giới tính) trong 5 Khandha của Brahmā Bhava Jāti đó, vị ấy nên quán bằng minh sát sự vắng mặt của Ghāna Dasaka Kalāpa, Jivhā Dasaka Kalāpa, Kāya Dasaka Kalāpa và Bhāva Dasaka Kalāpa. Quán thật cẩn thận.

1) Because of the arising of Kamma Bhava, Jāti arises.

1) Bởi sự sanh của Kamma Bhava, Jāti sanh.

     Kamma Bhava is the Cause, Jāti is the Effect.

Kamma Bhava là Nhân, Jāti là Quả.

JĀTIPACCAYĀ JARĀMARAṆAṂ

JĀTIPACCAYĀ JARĀMARAṆAṀ

(Because of Jāti, Jarā-Maraṇa arise)

(Bởi Jāti, Jarā-Maraṇa sanh)

The discernment:

Phép quán:

1) Because of the arising Jāti, Jarā-Maraṇa arise.

1) Bởi sự sanh của Jāti, Jarā-Maraṇa sanh.

     Jāti is the Cause, Jarā-Maraṇa is the Effect.

Jāti là Nhân, Jarā-Maraṇa là Quả.

This discernment can be discerned in two ways: Samuti Sacca way or Paramattha Sacca way.      In the Samuti Sacca way, the discernment that ‘because of Jāti i.e. the Patisandhi which arises once in a life, old age-Jarā and death-Maraṇa occur’ can be realized by insight by discerning the Future Jāti-Jarā-Maraṇa.

Việc quán này có thể được thực hiện thành hai cách: Sammuti Sacca hay cách Paramattha Sacca. Theo cách Sammuti Sacca, phép quán rằng ‘bởi Jāti tức là Paṭisandhi sanh lên một lần trong 1 kiếp sống, tuổi già–Jarā và chết–Maraṇa xuất hiện có thể được thấy rõ bằng minh sát theo cách quán Jāti-Jarā-Maraṇa trong Tương lai.

As for the Paramattha Sacca way, in:

Theo cách Paramattha, trong:

1) the Rūpa dhamma which are going to arise throughout the whole (Future) life,

1) Rūpa dhamma sắp sửa sanh trong suốt kiếp sống Tương lai,

2) a) the Nāma dhamma which are going to arise according to the Āyatana Dvāra throughout the whole (Future) life and

2) a) Nāma dhamma sắp sửa sanh lên tùy theo Āyatana Dvāra trong suốt kiếp sống (Tương lai) và

     b) the Paṭisandhi-Bhavaṅga-Cuti Nāma dhamma which are the Vīthi Mutta that arise in the (Future) life,

b) Paṭisandhi – Bhavaṅga – Cuti Nāma dhamma tức là Vīthi Mutta sanh lên trong kiếp sống (Tương lai),

A) their arising moment Uppāda is Jāti;

A) sát-na sanh Uppāda của chúng là Jāti;

B) their static\duration moment Ṭhīti is Jarā;

B) sát-na trụ Ṭhīti của chúng là Jarā;

C) their perishing moment Bhaṅga is Maraṇa.

C) sát-na diệt Bhaṅga của chúng là Maraṇa.

After having seen by insight the arising-static-perishing away of those NāmaRūpa which will be occurring throughout the whole Future life, it can be discerned as:

Sau khi thấy bằng minh sát sự sanh – trụ – diệt của những NāmaRūpa sẽ xuất hiện trong suốt kiếp sống Vị lai thì có thể quán là:

1) Because of the arising Jāti, Jarā-Maraṇa arise.

1) Bởi sự sanh của Jāti, Jarā – Maraṇa sanh.

     Jāti is the Cause, Jarā-Maraṇa is the Effect.

Jāti là Nhân, Jarā – Maraṇa là Quả.

Soka-Parideva-Dukkha-Domanassa-Upāyāsa

Soka-Parideva-Dukkha-Domanassa-Upāyāsa

Soka-Parideva-Dukkha-Domanassa-Upāyāsa can arise in those who have Jāti.  However, these are not the states which are certain to arise in everyone who has Jāti.  Although there is Jāti in the NāmaRūpa processes of Ariyā Noble persons who have eradicated Kilesa defilements, Soka-Parideva…..etc cannot arise in them.  (Only Kāyika Dukkha may arise accordingly).  Therefore Soka….etc are not the definite (Mukhya) effect of Jāti.  It is to discern by insight the arising of Soka….etc in the Future in whom they can arise.  Some of the discernment:

Soka-Parideva-Dukkha-Domanassa-Upāyāsa có thể sanh lên nơi người có Jāti. Tuy nhiên, không có tuyên bố rằng chắc chắn chúng sẽ sanh lên ở những ai có Jāti. Mặc dù có Jāti trong tiến trình NāmaRūpa của Thánh Nhân Ariyā đã đoạn tuyệt phiền não Kilesa nhưng Soka – Parideva… không thể sanh lên nơi các vị ấy. (Chỉ có Kāyika Dukkha có thể sanh lên).  Bởi thế Soka… không phải dứt khoát là quả của Jāti. Cần quán bằng minh sát sự sanh lên của Soka,… trong Tương lai ở người mà chúng có thể khởi lên. Tiến trình quán:

1) Because of the arising of Jāti, Soka arises.

1) Bởi sự sanh của Jāti, Soka sanh.

     Jāti is the Cause, Soka is the Effect. ….etc

Jāti là Nhân, Soka là Quả…

2) Because of the arising of Jāti, Upāyāsa arises.

2) Bởi sự sanh của Jāti, Upāyāsa sanh.

     Jāti is the Cause, Upāyāsa is the Effect.

Jāti là Nhân, Upāyāsa là Quả.

(Understand that to discern Parideva, Dukkha, Domanassa is based on the same method).

(Cần hiểu rằng phép quán Parideva, Dukkha, Domanassa đều dựa trên cùng phương pháp).

Soka-Parideva-Domanassa-Upāyāsa Vīthi Process

Tiến Trình Soka-Parideva-Domanassa-Upāyāsa Vīthi

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

Soka….Upāyāsa

12

18(domanassa gr.)

11\33\32

 

manodvārāvajjana

javana 7x

tadārammaṇa 2x

Soka….Upāyāsa

12

18(domanassa gr.)

11\33\32

Soka-Parideva-Domanassa-Upāyāsa are of Dosa Javana group.  Only Manodvāra Vīthi is shown here as an example.   Pañcadvārāvajjana Vīthi can also arise accordingly; but intense Soka….etc can only occur in Manodvāra.  Tadārammaṇa may or may not arise.  If Tadārammaṇa arise then subsequent to Dosa Javana, only Upekkha Tadārammaṇa can arise; or else Āgantuka Bhavaṅga can arise.   If the Future life is Brahmā, Soka….etc cannot arise.  The realm itself is free from Dosa group.

Soka-Parideva-Domanassa-Upāyāsa thuộc về nhóm Dosa. Chỉ Manodvāra Vīthi được trình bày ở đây làm ví dụ. Pañcadvārāvajjana Vīthi cũng có thể sanh; nhưng Soka,… dữ dội chỉ có thể sanh trong Manodvāra. Tadārammaṇa có thể sanh hoặc không sanh. Nếu Tadārammaṇa sanh do kế liền Dosa Javana, chỉ có Upekkha Tadārammaṇa có thể sanh; hoặc Āgantuka Bhavaṅga có thể sanh. Nếu kiếp Tương lai là Brahmā, Soka… không thể sanh khởi. Cõi này tự nó thoát khỏi nhóm Dosa.

The discernment of Paṭicca Samuppāda 1st Method shown to this extent is the method of putting the Present period in the centre (of the Paṭicca Samuppāda cycle).  Base on this method the meditator can discern the successive Pasts by putting one Past life in the centre.  The meditator can also discern the successive Futures by putting one Future life in the centre.

Sự quán Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ I được trình bày đến đây là phương pháp đặt giai đoạn Hiện tại vào trung tâm (của vòng Paṭicca Samuppāda). Dựa trên phương pháp này hành giả có thể quán các kiếp Quá khứ kế trước bằng cách đặt một kiếp Quá khứ vào trung tâm. Hành giả cũng có thể quán các kiếp tương lai kế tiếp bằng cách đặt một kiếp tương lai vào trung tâm.

FOUR METHODS OF TEACHING PAṬICCA SAMUPPĀDA

BỐN PHƯƠNG PHÁP DẠY PAṬICCA SAMUPPADA

Just like 4 creeper-gatherers collecting creepers, the Buddha taught Paṭicca Samuppāda in 4 methods which are:

Cũng giống như người thu gom dây leo đang thâu hoạch dây leo, Đức Phật dạy Paṭicca Samuppāda theo 4 phương pháp:

     1) from the beginning till the end;

1) từ bắt đầu cho đến cuối;

     2) from the middle till the end;

2) từ giữa cho đến cuối;

     3) from the end till the beginning;

3) từ cuối cho đến bắt đầu;

     4) from the middle till the beginning.

4) từ giữa cho đến bắt đầu.

(1) From the beginning till the end=Anuloma Paṭicca Samuppāda 1st method

(1) Từ đầu cho đến cuối = Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ I

Among the 4 persons who are gathering creepers, one of them found the root of the creeper first.  This man cuts it at the root and pulls the whole creeper till the tip (=its end); then he takes it away and uses it appropriately.  Similarly the Buddha taught the Paṭicca Samuppāda from Avijjā i.e. the beginning till Jarā-Maraṇa i.e. the end as:

Trong 4 người thâu hoạch dây leo, một người tìm thấy gốc của dây leo trước tiên. Người này cắt nó ở gốc và kéo tất cả phần còn lại cho đến ngọn (đoạn cuối của nó); kế đến vị ấy mang nó đi và tùy nghi sử dụng nó. Tương tự như vậy, Đức Phật dạy Paṭicca Samuppāda từ Āvijja tức là từ khởi đầu cho đến Jarā-Maraṇa tức là khúc cuối rằng:

     Iti kho Bhikkhave Avijjāpaccayā Saṅkhārā……..Jātipaccayā JarāMaraṇaṁ-Thus, Bhikkhus, because of the arising of Avijjā, Saṅkhāra arises;……because of the arising  of Jāti, Jarā-Maraṇa arises (Mahā Taṇhāsankhaya Sutta,Majjhima Nikāya; Vism XVII-29).

Iti kho Bhikkhave Avijjāpaccayā Saṅkhārā……..Jātipaccayā JarāMaraṇaṁ – Như vậy, này các Tỳ Khưu, bởi sự sanh của Āvijjā, Saṅkhāra sanh; … bởi sự sanh của Jāti, Jarā-Maraṇa sanh (Mahā Taṇhāsankhaya Sutta, Majjhima Nikāya; Vism XVII-29).

(2) From the middle till the end = Anuloma Paṭicca Samuppāda 2nd method

(2) Từ khúc giữa cho đến cuối = Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 2

Another one of the 4 persons found the middle of the creeper first.  He cuts the creeper at the middle and having pulled only the upper part, he takes it away and uses it appropriately.  Similarly the Buddha taught:

Một người khác trong 4 người tìm thấy khúc giữa của dây leo trước. Vị ấy cắt dây leo ấy ở giữa và chỉ kéo cho đến ngọn, rồi vị ấy mang nó đi và tùy nghi sử dụng nó. Tương tự, Đức Phật dạy:

     Tassa taṁ vedanaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. Yā vedanāsu nandī tadupādānaṁ.  Tassupādāna paccayā bhavo.  Bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarā-maraṇaṁ – That person who delights much in that Vedanā feeling, welcomes it saying heartily as “it is good, it is good…”, remains attached to it then, Nandi the delight arises in him.  Nandi the delight in Vedanā is Upādāna.  Because of the arising of Upādāna in that person, Bhava arise.  Because of the arising of Bhava, Jāti arise.  Because of the arising of Jāti, JarāMaraṇa arise.

Tassa taṁ vedanaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. Yā vedanāsu nandī tadupādānaṁ. Tassupādāna paccayā bhavo. Bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarā-maraṇaṁ – vị ấy là người có nhiều sự ưa thích nơi Thọ Vedanā, chào đón nó và nồng nhiệt nói rằng “đây là tốt, đây là tốt…”, lúc ấy còn dính mắc vào nó, khao khát Nandi khởi sanh nơi vị ấy. Sự thích thú Nandi với Vedanā là Upādāna. Bởi sự sanh của Upādāna nơi người đó, Bhava sanh. Bởi sự sanh của Bhava, Jāti sanh. Bởi sự sanh của Jāti, Jarā – Maraṇa sanh.

In this way the Buddha taught the Paṭicca Samuppāda beginning from Vedanā which is the middle till JarāMaraṇa which is the end (Vism XVII-30).

Theo cách này, Đức Phật giảng Paṭicca Samuppāda bắt đầu với Vedanā ở khúc giữa cho đến Jarā Maraṇa ở khúc cuối (Vism XVII-30)

(3) From the end till the beginning = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda 1st method

(3) Từ cuối cho đến bắt đầu = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 1.

Another one of the 4 persons found the tip of the creeper first.  Pulling the tip, he follows it until the root, takes the whole creeper and uses it appropriately.  Similarly the Buddha questioned:

Một người khác nữa trong 4 người tìm thấy ngọn của dây leo trước. Kéo từ ngọn, vị ấy lần dần đến gốc, rồi lấy toàn bộ dây leo và tùy nghi sử dụng nó. Tương tự Đức Phật đã hỏi:

Jātipaccayā jarāmaraṇanti iti kho panetaṁ vuttaṁ.  Jātipaccayā nu kho bhikkhave jarāmaraṇaṁ no vā. kathaṁ vā ettha hotīti.

Jātipaccayā jarāmaraṇanti iti kho panetaṁ vuttaṁ. Jātipaccayā nu kho bhikkhave jarāmaraṇaṁ no vā. kathaṁ vā ettha hotīti.

Jātipaccayā bhante jarāmaranaṁ, evaṁ no ettha hoti ‘jātipaccayā jarāmaraṇa’nti.

Jātipaccayā bhante jarāmaranaṁ, evaṁ no ettha hoti ‘jātipaccayā jarāmaraṇa’nti.

Bhavapaccaya jāti…..Avijjāpaccayā saṅkhārāti it kho panetaṁ vuttaṁ.  Avijjāpaccayā nu kho bhikkhave saṅkharā no vā, kathaṁ vā ettha hotīti.

Bhavapaccaya jāti…..Avijjāpaccayā saṅkhārāti it kho panetaṁ vuttaṁ. Avijjāpaccayā nu kho bhikkhave saṅkharā no vā, kathaṁ vā ettha hotīti.

Avijjāpaccayā bhante saṅkhārā, evaṁ no ettha hoti ‘avijjāpaccayā saṅkharā’ti

Avijjāpaccayā bhante saṅkhārā, evaṁ no ettha hoti ‘avijjāpaccayā saṅkharā’ti –

“With Jāti as Cause, JarāMaraṇa arise”, so it was said.  Bhikkhus, is there JarāMaraṇa with Jāti as Cause or not, how do you consider it?

“Với Jāti là Nhân, Jarā Maraṇa sanh”, điều ấy đã được nói lên. Này các Tỳ-khưu, phải chăng JarāMaraṇa có Jāti là Nhân hay không, các ông có nhận ra điều này?

With Jāti as Cause, JarāMaraṇa arise, Bhante.  Thus we acknowledge: “With Jāti as Cause, JarāMaraṇa arise”.

Với Jāti là Nhân, JarāMaraṇa sanh, bạch Thế Tôn. Như vậy con nhận biết “Với Jāti là Nhân, JarāMaraṇa sanh”.

“With Bhava as Cause, Jāti arise”…….

“Với Bhava là Nhân, Jāti sanh”…

“With Avijjā as Cause, Saṅkhāra arise”, so it was said.  Bhikkhus, is there Saṅkhāra with Avijjā as Cause or not, how do you consider it?

“Với Avijjā là Nhân, Saṅkhāra sanh”, điều ấy đã được nói lên. Này các Tỳ-khưu, phải chăng Saṅkhāra Avijjā là Nhân hay không, các ông có nhận ra điều này?

With Avijjā as Cause, Saṅkhāra arise, Bhante.  Thus we acknowledge: “With Avijjā as Cause, Saṅkhāra arise”.

Với Āvijjā là Nhân, Saṅkhāra sanh. Như vậy, chúng con nhận biết “Với Avijjā là Nhân, Saṅkhāra sanh”.

In this way the Buddha taught Paṭicca Samuppāda starting from JarāMaraṇa which is the end till Avijjā which is the beginning (Vism. XVII, 31).

Theo cách như vậy, Đức Phật dạy Paṭiccha Samuppāda bắt đầu từ JarāMaraṇa là khúc cuối cho đến Āvijja là khúc đầu (Vism. XVII, 31).

(4) From the middle till the beginning = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda 2nd method

(4) Từ giữa cho đến bắt đầu = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 2

Another one of those 4 creeper gatherers found the middle of the creeper first.  Having cut it at the middle he traces it downwards until the root, takes it away and uses it appropriately.  Similarly the Buddha taught:

Một người khác nữa trong 4 người thu hoạch dây leo tìm thấy khúc giữa dây leo trước. Sau khi cắt nó ở khúc giữa vị ấy lần xuống đến gốc, rồi mang nó đi và tùy nghi sử dụng nó. Tương tự Đức Phật dạy:

Ime kho bhikkhave cattaro āhārā kim nidānā kiṁ samudayā kiṁ jātikā kiṁ pabhavā.  ime cattāro āhārā taṇhā nidānā taṇhā samudayā  taṇhā jātikā  taṇhā pabhavā.   Taṇhā cāyaṁ bhikkhave kiṁ nidānā…..Vedanā…Phasso…Saḷāyatanaṁ…NāmaRūpam…Viññāṇaṁ…Saṅkhārā kiṁ nidānā….Saṅkhārā Avijjā nidānā Avijjā samudayā Avijjā jātikā Avijjā pabhavā – Bhikkhus, what do these 4 Āhāra have as their root Cause Nidāna?; their origin Samudayā when come together with other Causes (which are Gati-Upadhi-Kāla-Payoga)?; their genesis Jāti ?; their source, Pabhava?

Ime kho bhikkhave cattaro āhārā kim nidānā kiṁ samudayā kiṁ jātikā kiṁ pabhavā. ime cattāro āhārā taṇhā nidānā taṇhā samudayā taṇhā jātikā taṇhā pabhavā. Taṇhā cāyaṁ bhikkhave kiṁ nidānā….. Vedanā… Phasso… Saḷāyatanaṁ… NāmaRūpam… Viññāṇaṁ… Saṅkhārā kiṁ nidānā….Saṅkhārā Avijjā nidānā Avijjā samudayā Avijjā jātikā Avijjā pabhavā – Này các Tỳ-khưu, cái gì là Căn Nguyên Nidāna cho 4 loại Ahāra?; tập khởi Samudayā của chúng khi đi cùng với những Nhân khác (là Gati – Upadhi – Kāla – Payoga)? Sự hình thành, Jāti, của chúng?; nguồn gốc, Pabhava của chúng?

These 4 Āhāra have Taṇhā as their root Cause Nidāna; Taṇhā as their origin Samudayā when come together with other Causes (which are Gati-Upadhi-Kāla-Payoga); Taṇhā as their genesis Jāti; Taṇhā as their source Pabhava.

Bốn loại Ahāra này lấy Taṇhā làm Căn nguyên Nidāna; Taṇhā là tập khởi Samudayā khi đi cùng với các Nhân khác (là Gati – Upadhi – Kāla – Payoga); Taṇhā là sự hình thành, Jāti, của chúng; Taṇhā là nguồn gốc, Pabhava, của chúng.

Taṇhā…Vedanā…Phassa…Saḷāyatana…NāmaRūpa…Viññāṇa…

Taṇhā…Vedanā…Phassa…Saḷāyatana…NāmaRūpa…Viññāṇa…

What does Saṅkhāra has as its root Cause Nidāna?; its origin Samudayā when comes together with other Causes (which are Gati-Upadhi-Kāla-Payoga)?; its genesis Jāti?; its source Pabhava?

Cái gì là Căn Nguyên Nidāna của Saṅkhāra?; sự tập khởi Samudayā của chúng khi đi cùng với những Nhân khác (là Gati – Upadhi – Kāla – Payoga)? Sự hình thành, Jāti, của chúng?; nguồn gốc, Pabhava, của chúng?

Saṅkhāra has Avijjā as its root Cause Nidāna; Avijjā as its origin Samudayā when comes together with other Causes (which are Gati-Upadhi-Kāla-Payoga); Avijjā as its genesis Jāti; Avijjā as its source Pabhava (Saṁyutta-Vol.I-253, Burmese script; and Majjhima Nikāya).

Saṅkhāra có Avijjā là Căn nguyên Nidāna; Avijjā là tập khởi Samudayā của nó khi đi cùng với các Nhân khác (là Gati – Upadhi – Kāla – Payoga); Avijjā sự hình thành, Jāti, của nó; Avijjā là nguồn gốc, Pabhava, của nó (Saṁyutta-Vol.I-253, Burmese script; và Majjhima Nikāya)

Thus the Buddha taught Paṭicca Samuppāda from the 4 Āhāra or from Kamma Bhava or from Taṇhā which are the middle till Avijjā which is the beginning (Vism., XVII, 32).

Như vậy Đức Phật dạy Paṭicca Samuppāda từ 4 Āhāra hay từ Kamma Bhava hay từ Taṇhā là khúc giữa cho đến Avijjā là khúc đầu (Vism., XVII, 32).

Among the above 4 methods of Paṭicca Samuppāda teachings, the first one which is Anuloma Paṭicca Samuppāda 1st Method of teaching it from the beginning Avijjā till the end JarāMaraṇa is already shown in this book.  Now the Anuloma Paṭicca Samuppāda 2nd Method which is taught from the middle till the end will be further shown.

Trong 4 loại phương pháp dạy Paṭicca Samuppāda, phương pháp đầu tiên là Anuloma Paṭicca Samuppāda phương pháp thứ I dạy với sự khởi đầu là Āvijjā cho đến cuối JarāMaraṇa đã được trình bày trong sách này. Bây giờ, Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ II dạy bắt đầu từ đoạn giữa cho đến cuối sẽ được trình bày ở đây.

2) Anuloma Paṭicca Samuppāda 2nd Method

2) Anuloma Paṭicca Samuppāda Theo Phương Pháp thứ 2

Sa kho so bhikkhave kumāro vu ḍ ḍhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricārati. Cakkhuviññeyyehi rūpehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi.  Sotaviññeyyehi saddehi…Ghānaviññeyyehi gandhehi…Jivhāviññeyyehi rasehi…Kāyaviññeyyehi phoṭṭhabbehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi.

Sa kho so bhikkhave kumāro vu ḍ ḍhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricārati. Cakkhuviññeyyehi rūpehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi. Sotaviññeyyehi saddehi…Ghānaviññeyyehi gandhehi…Jivhāviññeyyehi rasehi…Kāyaviññeyyehi phoṭṭhabbehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi.

So cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe sārajjati, appiyarūpe rūpe byāpajjati anupaṭṭhitakāyasati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhutaṁ nappajānāti, yatthassa te pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti.  So evaṁ anurodhavirodhaṁ samāpanno yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkham vā adukkhamasukhaṁ vā, so taṁ vedanaṁ abhinandati abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati.  Tassa taṁ vedanaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. Yā vedanāsu nandī tadupādānaṁ.  Tassupādāna paccayā bhavo.  Bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarā-maraṇaṁ sokaparideva dukkha domanassupāyāsā sambhavanti.  Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti

So cakkhunā rūpaṁ disvā piyarūpe rūpe sārajjati, appiyarūpe rūpe byāpajjati anupaṭṭhitakāyasati ca viharati parittacetaso, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhutaṁ nappajānāti, yatthassa te pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhanti. So evaṁ anurodhavirodhaṁ samāpanno yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkham vā adukkhamasukhaṁ vā, so taṁ vedanaṁ abhinandati abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ vedanaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. Yā vedanāsu nandī tadupādānaṁ. Tassupādāna paccayā bhavo. Bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarā-maraṇaṁ sokaparideva dukkha domanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti

     Bhikkhus, that boy grows up and with faculties mature, is delighted, being endowed with 5 sense pleasures which are colour that is known by CakkhuViññāṇa, sound that is known by SotaViññāṇa, smell that is known by GhānaViññāṇa, taste that is known by Jivhā Viññāṅa, tangible that is known by KāyaViññāṇa which are pleasant, delightful, endearing, likable, connected with KāmaRāga.

– Này các Tỳ kheo, một đứa con trai nọ lớn lên và với các căn trưởng thành, ưa thích, đầy đủ với 5 dục lạc như màu được biết bằng CakkhuViññāṇa, âm thanh được biết bằng SotaViññāṇa, mùi được biết bằng GhānaViññāṇa, vị được biết bằng JivhāViññāṇa, xúc được biết bằng KāyaViññāṇa khả lạc, khả ái, khả hỷ, đáng yêu, liên hệ đến KāmaRāga.

That boy, on seeing Colour which is pleasing, is attached to it; if it is not pleasing then Dosa Citta arise on that Colour Rūpārammaṇa; he abides without Kāyagatāsati, with a narrow mind.  He does not realize as it really is, the Arahatta Phala Citta where the inferior Akusala cease totally without remainder and the Arahatta Phala Paññā which is freed.  That person, favouring Rāga and opposing Dosa, experience whatever feelings whether pleasant or painful or neither-painful-nor-pleasant.  That person delights in that Vedanā feeling, welcomes it saying heartily as “it is good, it is good”, remains attached to it.  Being delighting in that Vedanā, saying it heartily, remaining attached to it then NandīRāga the delight arises in him.  NandīRāga the delight in Vedanā is Upādāna.  Then in him occurs: with Upādāna as Cause, Bhava arises; with Bhava as Cause, Jāti arises; with Jāti as Cause, JarāMaraṇa, Soka, Parideva, Dukkha, Domanassa, Upāyāsa arise.  Thus is the arising of the aggregate of suffering (entirely without happiness).  (It is similar for Sotadvāra….etc). (Mahā Taṇhāsankhaya Sutta).

Đứa trai ấy, khi thấy Sắc khả ái, thì tham đắm vào nó; nếu không khả ái thì Dosa Citta sanh lên đối với cảnh sắc Rūpārammaṇa; nó sống không có Kāyagatāsati, với tâm hạn hẹp. Nó không nhận biết như thật các pháp như chúng là, Arahatta Phala Citta,  nơi mà mọi Akusala hạ liệt bị diệt tận hoàn toàn không còn dư sót, và Arahatta Phala Paññā được tự do. Kẻ đó, ưa thích Rāga và chống đối Dosa, trải nghiệm các cảm giác lạc hay khổ hay không lạc không khổ. Kẻ đó ưa thích thọ Vedanā, chào đón nó và nồng nhiệt nói “thật là tốt, thật là tốt”, bị trói mắc vào nó. Ưa thích Vedanā, nhiệt tình chào đón, tiếp tục bị trói vào nó rồi NandīRāga sự hoan hỉ sanh lên nơi kẻ ấy. NandīRāga hoan hỉ trong Vedanā là Upādāna. Rồi nơi kẻ ấy xuất hiện: với Upādāna là Nhân, Bhava sanh; với Bhava là Nhân, Jāti sanh; với Jāti là Nhân, JarāMaraṇa, Soka, Parideva, Dukkha, Domanassa, Upāyāsa sanh. Như vậy là sự sanh lên của khổ uẩn (trọn vẹn không có an lạc). (tương tự như vậy đối với Sotadvāraa…). (Mahā Taṇhāsankhaya Sutta)

In accordance with the above teaching, the Paṭicca Samuppāda can be discerned:

Theo sự hướng dẫn ở trên, Paṭicca Samuppāda có thể được quán như sau:

1) either beginning with Saḷāyatana

1) Bắt đầu với Salāyatana

2) or beginning with Vedanā

2) hay bắt đầu với Vedanā

This discernment is the same with the discernment from Saḷāyatana till JarāMaraṇa in the Anuloma Paṭicca Samuppāda 1st Method.

Pháp quán này tương tự với pháp quán từ Saḷāyatana cho đến JarāMaraṇa trong Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 1.

Understand that in discerning the successive Futures until the end of the rounds of Saṁsāra:

Cần hiểu rằng trong việc quán các kiếp Tương lai cho đến tận cùng của vòng Saṁsāra:

1) Saḷāyatana-Phassa-Vedanā-(Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-Bhava(=Kamma Bhava-Saṅkhāra) are the Present,

1) Saḷāyatana – Phassa – Vedanā – (Avijjā) – Taṇhā – Upādāna – Bhava (=Kamma Bhava – Saṅkhāra) là Hiện tại,

2) Jāti-JarāMaraṇa are the 1st Future.

2) Jāti – JarāMaraṇa là kiếp Tương lai thứ 1.

Then, if there is still Future rounds of Saṁsāra:

Kế đến nếu vẫn còn có sự luân chuyển trong Saṁsāra ở Tương lai:

     1) Saḷāyatana-Phassa-Vedanā-(Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-Bhava(=Kamma Bhava-Saṅkhāra) are the 1st Future,

1) Saḷāyatana – Phassa – Vedanā – (Avijjā) – Taṇhā – Upādāna – Bhava (=Kamma Bhava – Saṅkhāra) là Tương lai thứ 1,

     2) Jāti-JarāMaraṇa are the 2nd Future;……etc.

2) Jāti – JarāMaraṇa là Tương lai thứ 2;…

One can also change to discern towards the Past rounds of Saṁsāra.  In discerning towards the successive Past rounds of Saṁsāra.  In discerning towards the successive Past rounds of Saṁsāra by directing the insight:

Hành giả cũng có thể thay đổi để quán hướng về vòng Saṁsāra ở Quá khứ. Trong việc quán hướng về các kiếp Quá khứ trong vòng Saṁsāra bằng minh sát:

     1) Saḷāyatana-Phassa-Vedanā-(Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-Bhava(=Kamma Bhava-Saṅkhāra) are the 1st Past,

1) Saḷāyatana – Phassa – Vedanā – (Avijjā) – Taṇhā – Upādāna – Bhava (=Kamma Bhava – Saṅkhāra) là Quá khứ thứ 1,

     2) Jāti-JarāMaraṇa are the Present; then

2) Jāti – JarāMaraṇa là Hiện tại; kế đến

     1) Saḷāyatana-Phassa-Vedanā-(Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-Bhava(=Kamma Bhava-Saṅkhāra) are the 2nd Past,

1) Saḷāyatana – Phassa – Vedanā –(Avijjā) – Taṇhā – Upādāna – Bhava (=Kamma Bhava – Saṅkhāra) là Quá khứ thứ 2,

     2) Jāti-JarāMaraṇa are the 1st Past; then

2) Jāti – JarāMaraṇa là Quá khứ thứ 1; rồi

     1) Saḷāyatana-Phassa-Vedanā-(Avijjā)-Taṇhā-Upādāna-Bhava(=Kamma Bhava-Saṅkhāra) are the 3rd Past,

1) Saḷāyatana – Phassa – Vedanā –(Avijjā) – Taṇhā – Upādāna – Bhava (=Kamma Bhava – Saṅkhāra) là Quá khứ thứ 3,

     2) Jāti-JarāMaraṇa are the 2nd Past;…..etc.

2) Jāti – JarāMaraṇa là Quá khứ thứ 2;…

It is the discernment of linking 2 lives.  If able to discern like that=if able to discern from the successive Pasts till the last Future then one can understand the similarity with the Paṭicca Samuppāda 1st Method.  The reasons are that:-  Jāti is Viññāṇa-NāmaRūpa-Saḷāyatana-Phassa-Vedanā; and because Avijjā is included in Taṇhā-Upādāna; and Saṅkhāra is included in Kamma Bhava.  Or in other words, Taṇhā-Upādāna-Bhava are Avijjā-Taṇhā-Upādāna-Saṅkhāra-Kamma.  Therefore for the meditators who are proficient in both the Paṭicca Samuppāda 5th Method (taught at the beginning stage of Paṭicca Samūppada) and the Anuloma Paṭicca Samuppāda 1st Method, this Anuloma Paṭicca Samuppāda 2nd Method will be easy.

Đây là phép quán về mối quan hệ giữa 2 kiếp sống. Nếu có thể quán như vậy = nếu có khả năng quán từ các kiếp Quá khứ kế trước cho đến kiếp Tương lai cuối cùng thì hành giả  có thể hiểu sự tương đồng với Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 1. Lý do là: – Jāti là Viññāṇa-NāmaRūpa-Saḷāyatana-Phassa-Vedanā; và bởi Avijjā được bao gồm trong Taṇhā-Upādāna; và Saṅkhāra được bao gồm trong Kamma Bhava. Hay nói theo cách khác, Taṇhā – Upādāna – Bhava là Avijjā-Taṇhā-Upādāna-Saṅkhāra-Kamma. Vì vậy, đối với hành giả là người thuần thục trong cả Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 5 (được dạy ở giai đoạn đầu của Paṭicca Samūppada) và Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 1, thì sự quán Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 2 sẽ được dễ dàng.

3)From the end till the beginning=Paṭiloma Paṭicca Samuppāda 1st Method

3) Từ cuối cho đến đầu = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 1

Here, the Paṭicca Samuppāda is taught in reverse order from JarāMaraṇa which is the end till Avijjā which is the beginning.  The Paṭiloma sequence is:

Ở đây, Paṭicca Samuppāda được dạy theo chiều ngược từ JarāMaraṇa khúc cuối cho đến Avijjā khúc đầu. Thứ tự Paṭiloma như sau:

     1) JarāMaraṇa

1) JarāMaraṇa

     2) Jāti

2) Jāti

     (the above 2 are of the Future period)

(2 chi trên thuộc về Tương lai)

     3) Bhava

3) Bhava

     4) Upādāna

4) Upādāna

     5) Taṇhā

5) Taṇhā

     6) Vedanā

6) Vedanā

     7) Phassa

7) Phassa

     8) Saḷāyatana

8) Saḷāyatana

     9) NāmaRūpa

9) NāmaRūpa

     10) Viññāṇa

10) Viññāṇa

     (the above group, from 3 to 10, is of the Present period)

(nhóm trên, từ 3 đến 10, là thuộc về giai đoạn Hiện tại)

     11) Saṅkhāra

11) Saṅkhāra

     12) Avijjā

12) Avijjā

     (the above, 11&12, are of the Past period)

(2 chi 11&12 ở trên thuộc về giai đoạn Quá khứ)

Moreover, if the meditator wants to further discern towards the Future then he can discern as follows:

 Hơn nữa, nếu hành giả muốn quán xa hơn về Tương lai thì vị ấy có thể quán như sau:

     JarāMaraṇa-Jāti are of the 2nd Future group of states,

JarāMaraṇa-Jāti là của nhóm giai đoạn Tương lai thứ 2,

     Bhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa are of the 1st Future group of states,

Bhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa là của nhóm giai đoạn Tương lai thứ 1,

     Saṅkhāra-Avijjā are of the Present group of states.

Saṅkhāra-Avijjā là thuộc nhóm giai đoạn Hiện tại.

In this way, having linked the Causal Relationships, discern the Causes and Effects until the last Future.

Theo cách này, sau khi nối kết các mối Quan Hệ Nhân Quả, quán Nhân và Quả cho đến kiếp Vị lai cuối cùng.

Also, the meditator can discern towards the Past rounds of Saṁsarā by sending the insight:

Và nữa, hành giả có thể quán hướng đến vòng Saṁsāra ở Quá khứ bằng cách hướng minh sát đến:

     JarāMaraṇa-Jāti are of the Present period group of states,

JarāMaraṇa-Jāti là thuộc nhóm giai đoạn Hiện tại,

     Bhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa are of the 1st Past period group of states,

Bhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa là của nhóm giai đoạn Quá khứ thứ 1,

     Saṅkhāra-Avijjā are of the 2nd Past period group of states.

Saṅkhāra-Avijjā là thuộc giai đoạn nhóm Quá khứ thứ 2.

In this way the meditator can discern the Causes & Effects as far as he can, having sent the insight towards the successive Pasts.  This is the discernment of Causes and Effects, having linked the Causal Relationship between 3 lives.  This discernment is also not difficult for those who is proficient in the Anuloma Paṭicca Samuppāda 1st Method.  It is just discerning in reverse order.

Theo cách này, hành giả có thể quán Nhân & Quả xa như vị ấy có thể, hướng minh sát đến những kiếp Quá khứ. Đây là sự quán Nhân và Quả, sau khi nối kết mối Quan hệ Nhân Quả giữa 3 kiếp sống. Việc quán này cũng không khó cho những ai đã thuần thục Anuloma Paṭicca Samuppāda theo phương pháp thứ 1. Đây chỉ là việc quán với trình tự ngược lại.

Some examples of the discernment

 Vài Ví Dụ Quán

Having seen by insight that JarāMaraṇa is produced by Jāti, discern the Cause and Effect as follows:

Sau khi thấy bằng minh sát rằng JarāMaraṇa được tạo nên bởi Jāti, quán Nhân và Quả như sau:

Because of the arising of Jāti, JarāMaraṇa arise.

Bởi sự sanh của Jāti, JarāMaraṇa sanh.

Jāti is Cause, JarāMaraṇa is the Effect.

Jāti là Nhân, JarāMaraṇa là Quả.

Also, after having seen by insight that because of the arising of Kamma Bhava, Jāti arises, discern the Causes and Effect as follows:

Cũng vậy, sau khi thấy bằng minh sát rằng bởi sự sanh của Kamma Bhava, Jāti sanh, quán Nhân và Quả như sau:

Because of the arising of Kamma Bhava, Jāti arises.

Bởi sự sanh của Kamma Bhava, Jāti sanh.

Kamma Bhava is the Cause, Jāti is the Effect…..etc.

Kamma Bhava là Nhân, Jāti là Quả…

Discern thus in reverse order until Avijjā, the beginning.

Quán như vậy ngược lại cho đến Avijjā, là sự khởi đầu.

4) From the middle till the beginning=Paṭiloma Paṭicca Samuppāda (2nd method)

4) Từ giữa cho đến bắt đầu = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda (phương pháp thứ 2)

The 4 Āhāra

4 Ahāra.

In this discernment the Commentary explained excerpts from Āhāra Sutta of Nidāna Vagga Saṁyutta Pāḷi.  In that Sutta the Buddha taught the Paṭicca Samuppāda in reverse order from the middle, starting from the 4 Āhāra till Avijjā which is the beginning.  That being so, the 4 Āhāra will be explained first.

Trong phép quán này, Chú giải giải thích các trích dẫn từ Āhāra Sutta của Nidāna Vagga Saṁyutta Pāḷi. Trong bài kinh này, Đức Phật dạy Paṭicca Samuppāda theo trình tự ngược từ giữa, bắt đầu với 4 Āhāra cho đến Avijjā là khởi đầu. Do vậy, 4 Āhāra sẽ được giải thích trước.

The following are the 4 Āhāra:

Sau đây là 4 loại Āhāra:

1) Kabaḷīkāra Āhāra = the Āhāra, whether it is gross or subtle, made into a mouthful, although not swallowed but is like swallowed (for explanation, see Kabaḷīkāra Āhāra below)

1) Kabaḷīkāra Ahāra = Āhāra, bất kể nó là thô hay tế, được làm thành miếng, dù không được nuốt cũng như được nuốt (để giải thích, xem Kabaḷīkāra Āhāra ở dưới)

2) Phassāhāra = Āhāra which is contact with object (ārammaṇa).

2) Phassāhāra (xúc thực) = Āhāra xúc chạm với cảnh (ārammaṇa).

3) Manosañcetanāhāra = Āhāra which impel\urge the mind .

3) Manosañcetanāhāra(tư thực) = Āhāra thúc đẩy\thôi thúc tâm.

4) Viññāṇa = Āhāra which is knowing\consciousness.

4) Viññāṇa(thức thực) = Āhāra biết\nhận thức.

VipākaVaṭṭa bhute paṭisandhipavattiphassādike kammasamuṭṭhānañca ojaṁ sandhāya “cattāro āhārā taṇhānidānā”ti ādi vuttaṁ. 

VipākaVaṭṭa bhute paṭisandhipavattiphassādike kammasamuṭṭhānañca ojaṁ sandhāya “cattāro āhārā taṇhānidānā“ti ādi vuttaṁ.

Vaṭṭupathambhakā pana itarepi Āhārā taṇhāpabhave tasmiṁ avijjamāne na vijjanti “taṇhānidānā”ti vattuṁ vaṭṭanti (Mūla Ṭīka-Vol. II-85; Mahā Ṭīka-Vol II-243, Burmese script)

Vaṭṭupathambhakā pana itarepi Āhārā taṇhāpabhave tasmiṁ avijjamāne na vijjanti “taṇhānidānā“ti vattuṁ vaṭṭanti (Mūla Ṭīka-Vol. II-85; Mahā Ṭīka-Vol II-243, Burmese script)

Referring to the following 4 Āhāra:

Liên hệ đến 4 loại Āhāra:

     1) Phassāhāra = Phassa accompanied with Vipāka Viññāṇa,

1) Phassāhāra = Phassa đồng sanh với Vipāka Viññāṇa,

     2) Manosañcetanāhāra = Cetanā accompanied Vipāka Viññāṇa,

2) Manosañcetanāhāra = Cetanā đồng sanh Vipāka Viññāṇa,

     3) Viññāṇāhara = Vipāka Viññāṇa,

3) Viññāṇāhāra = Vipāka Viññāṇa,

     4) Kabaḷīkārāhāra = Kammaja Ojā which are included in KammaSamuṭṭhāna Rūpa Kalāpa,

4) Kabaḷīkārāhāra = Kammaja Ojā có trong Kamma Samuṭṭhāna Rūpa Kalāpa,

which are the Vipāka Vaṭṭa that arise at the time of Paṭisandhi and Pavatti, the Buddha taught, Cattāro āhāra taṇhā nidānā= these 4 Āhāra has Taṇhā as their root Cause, Nidāna.  Although it was taught referring to the 4 Āhāra which are Vipāka Vaṭṭa by Nītattha way (i.e. implied meaning), as the other Akammaja Āhāra (which can support the incessant increasing of Saṁsarā Vaṭṭa Dukkha i.e. the incessant ‘rotating’ of Kilesa Vaṭṭa, Kamma Vaṭṭa, Vipāka Vaṭṭa by Upanissaya Satti) cannot also arise if Taṇhā is not present as the source, take note that it is appropriate to say that Taṇhā is the root Cause, Nidāna (Mūla Ṭīka-Vol. II-85; Mahā Ṭīka-Vol II-243, Burmese script).

là Vipāka Vaṭṭa (Quả luân) sanh lên lúc Paṭisandhi (tục sanh) và Pavatti (thường nhật), Đức Phật dạy, Cattāra āhāra taṇhā nidānā = 4 loại Āhāra này có Taṇhā là Căn nguyên, Nidāna. Mặc dầu nó được dạy liên hệ đến 4 Āhāra là Vipāka Vaṭṭa bằng lối Nītattha (tức có nghĩa ngụ ý), vì Akammaja Āhāra khác (có thể hỗ trợ sự tăng lên không ngừng của Saṁsarā Vaṭṭa Dukkha, tức là sự không ngừng ‘xoay’ Kilesa Vaṭṭa, Kamma Vaṭṭa, Vipāka Vaṭṭa bằng Upanissaya Satti) không thể sanh nếu Taṇhā không có mặt làm nguồn gốc, lưu ý rằng điều này cũng thích hợp với việc nói rằng Taṇhā là Căn Nguyên, Nidāna (Mūla Ṭīka-Vol. II-85; Mahā Ṭīka-Vol II-243, Burmese script).

Akammaja Āhāra = Anupādiṇṇaka Āhāra

Akammaja Āhāra= Anupādiṇṇaka Āhāra

Imesam sattānaṁ khādantānampi akhādantānampi bhuñjantānampi abhuñjantānampi paṭisandhicitteneva sahajātā kammajā ojā nāma atthi.  Sa yāvapi sattamā divasā pāleti.  Ayameva upādiṇṇaka kabaḷīkārāhāroti veditabbo.  Tebhūmakakusalākusalakiriyavasena anupādiṇṇakā.  Lokuttarā pana ruḷhīvasena kathitāti (Saṁyutta Commentary-Vol. II-23, 24  Burmese script)

Imesam sattānaṁ khādantānampi akhādantānampi bhuñjantānampi abhuñjantānampi paṭisandhicitteneva sahajātā kammajā ojā nāma atthi.  Sa yāvapi sattamā divasā pāleti.  Ayameva upādiṇṇaka kabaḷīkārāhāroti veditabbo.  Tebhūmakakusalākusalakiriyavasena anupādiṇṇakā.  Lokuttarā pana ruḷhīvasena kathitāti (Saṁyutta Commentary-Vol. II-23, 24  Burmese script)

Paṭisandhicitteneva sahajātāti lakkhaṇavacanametaṁ.  Sabbāyapi kammajarūpapariyāpannāya ojāya atthibhavassa avicchedappavatti sambhavadassanattho.  Sattamāti uppannadivasato paṭṭhāya yāva sattamadivasāpi.  Rūpasantatiṁ paveṇighaṭanavasena.  Ayamevāti KammajaOjā.  KammajaOjaṁ pana paṭicca uppannaojā akammajattā anupādiṇṇa āhārotveva veditabbo (Saṁyutta Ṭīka-Vol. II-27  Burmese script)

Paṭisandhicitteneva sahajātāti lakkhaṇavacanametaṁ.  Sabbāyapi kammajarūpapariyāpannāya ojāya atthibhavassa avicchedappavatti sambhavadassanattho.  Sattamāti uppannadivasato paṭṭhāya yāva sattamadivasāpi.  Rūpasantatiṁ paveṇighaṭanavasena.  Ayamevāti KammajaOjā.  KammajaOjaṁ pana paṭicca uppannaojā akammajattā anupādiṇṇa āhārotveva veditabbo (Saṁyutta Ṭīka-Vol. II-27  Burmese script)

In accordance with the above Commentary and sub-Commentary, the 4 Āhāra shown above which are part of Vipāka Vaṭṭa are the 4 Upādiṇṇaka Āhāra.  As for the 4 AkammajaĀhāra or AnupādiṇṇakaĀhāra, they are:

Theo Chú giải và Phụ Chú giải ở trên, 4 loại Āhāra trình bày ở trên là thành phần của Vipāka Vaṭṭa là 4 loại Upādiṇṇaka Ahāra. Đối với 4 Akammaja Āhāra hay Anupādiṇṇaka Āhāra, chúng là:

     1) Phassāhāra which is the Phassa that is accompanied with Kusala Citta, Akusala Citta and Kiriya Citta,

1) Phassāhāra là Phassa đồng sanh với Kusala Citta, Akusala Citta và Kiriya Citta,

     2) Manosañcetanāhāra which are Kusala Cetanā, Akusala Cetanā and Kiriya Cetanā,

2) Manosañcetanāhāra là Kusala Cetanā, Akusala Cetanā và Kiriya Cetanā,

     3) Viññāṇāhāra which are Kusala Viññāṇa, Akusala Viññāṇa and Kiriya Viññāṇa,

3) Viññāṇāhāra chính là Kusala Viññāṇa, Akusala Viññāṇa và Kiriya Viññāṇa,

     4) Kabaḷīkāra Āhāra which are Cittaja Ojā, Utuja Ojā and Āhāraja Ojā.

4) Kabaḷīkāra Āhāra chính là Cittaja Ojā, Utuja Ojā và Āhāraja Ojā.

These 4 Akammaja Āhāra=Anupādiṇṇaka Āhāra support Saṁsarā Vaṭṭa Dukkha rounds of suffering.  Since these Āhāra cannot arise if Taṇhā did not exist as the source then it is appropriate to say that Taṇhā is the root Cause, Nidāna by means of Neyyattha.

Bốn loại Akammaja Ahāra = Anupādiṇṇaka Āhāra hỗ trợ Saṁsarā Vaṭṭa Dukkha, vòng luân hồi khổ đau. Vì những Āhāra này không thể sanh lên nếu Taṇhā không hiện diện làm nguồn gốc nên thích hợp để nói rằng Taṇhā chính là Căn Nguyên, Nidāna theo ý nghĩa ẩn dụ Neyyattha.

Kabaḷīkāra Āhāra

Kabaḷīkāra Āhāra

Āhāraja Ojā is included in the Anupādiṇṇaka Ojā mentioned above.  As for the Āhāraja Ojā, the following 4 types of Āhāraja Ojā are included in it:

Ahāraja Ojā được bao gồm trong Anupādiṇṇaka Ojā đã được đề cập ở trên. Đối với Ahāraja Ojā, bốn loại Āhāraja Ojā sau đây được bao gồm trong nó:

     1) Āhāraja Ojā produced by Kammaja Ojā,

1) Āhāra Ojā sanh ra từ Kammaja Ojā,

     2) Āhāraja Ojā produced by Cittaja Ojā,

2) Āhāra Ojā sanh ra từ Cittaja Ojā,

     3) Āhāraja Ojā produced by Utuja Ojā,

3) Āhāra Ojā sanh ra từ Utuja Ojā,

     4) Āhāraja Ojā produced by the preceding Āhāraja Ojā,

4) Āhāra Ojā sanh ra từ Āhāra Ojā trước đó,

It will be explained a little more.  The word Kabaḷīkāra Āhāra was translated by the ancient Venerable Teachers as “although not made into a lump but is like made into a lump”.  This translation has a very profound meaning.

Điều này sẽ được giải thích thêm một chút. Từ Kabaḷīkāra Āhāra được dịch bởi các Bậc Pháp sư cổ xưa là “mặc dù không làm thành miếng nhưng giống như đã làm thành miếng”. Câu dịch này có ý nghĩa rất sâu sắc.

Rūpa dhamma or Paramattha dhamma does not have the nature to shift from one place to another.  As soon as they have arisen, they perish away immediately at the same place where they arose.  Āhāra, such as rice eaten by living beings, while still on the plate; in the mouth; in the throat; in the stomach as newly eaten food, etc… are just groups of UtujaOjaṭṭhamaka Rūpa.  They are just Rūpa dhamma produced successively, continuously by Tejo Dhātu called Utu that exist in a Rūpa Kalāpa.  In accordance with the nature of Paramattha dhamma, those Rūpa dhamma perish away as soon as they have arose.  The Rūpa dhamma that are arising while chewing is one; the Rūpa dhamma that are arising while swallowing is another; the Rūpa dhamma existing as newly eaten food in the stomach is yet another.  They are not the Paramattha dhamma which can last for the period from plate to mouth; from mouth to throat; from throat to stomach.  They are not the Paramattha dhamma which can last long enough to be made into a lump and then eaten.  However as long as the supportive power of the Tejo dhātu in the Utuja Kalāpa called ‘food’ is not exhausted yet, new Utuja Kalāpa are arising incessantly successively again & again.  Therefore it is translated as the Āhāra which “although not made into a lump but is like made into a lump”.

Rūpa dhamma hay Paramattha dhamma không có bản tính dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác. Ngay khi chúng vừa sanh lên, chúng liền diệt đi ở ngay nơi mà chúng sanh lên. Āhāra, như là cơm được chúng sanh ăn, trong khi còn trên đĩa; trong miệng, trong cuống họng; trong bao tử như thức ăn mới ăn,… chỉ là các nhóm UtujaOjaṭṭhamaka Rūpa. Chúng chỉ là các Rūpa dhamma được sanh liên tiếp nối tiếp nhau bởi Tejo dhātū gọi là Utu hiện diện trong một Rūpa Kalāpa. Theo bản chất của Paramattha dhamma, những Rūpa dhamma đó liền diệt ngay khi chúng vừa sanh. Rūpa dhamma đang sanh lên trong khi nhai là một; Rūpa dhamma đang sanh lên trong lúc đang nuốt là cái khác; Rūpa dhamma hiện hữu như thức ăn vừa ăn ở trong bao tử là khác. Chúng không phải là Paramattha dhamma mà có thể tồn tại trong thời gian từ cái đĩa cho đến miệng; từ miệng cho đến họng; từ họng cho đến bao tử. Chúng không phải là Paramattha dhamma mà có thể tồn tại đủ lâu để được làm thành miếng để rồi được ăn. Tuy nhiên, chừng nào mà năng lực hỗ trợ của Tejo dhātu trong Utuja Kalāpa được gọi là “vật thực” còn chưa bị cạn kiệt, Utuja Kalāpa mới sẽ sanh lên liên tiếp không ngừng, hết lần này đến lần khác. Bởi vậy, nó được dịch là Āhāra “dù chưa được làm thành miếng ăn nhưng giống như đã làm thành miếng ăn”.

The Utuja Ojā in the Utuja Kalāpa called Kabaḷīkāra Āhāra – which is the newly eaten food – produce new Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa when they get the support of the Tejo dhātu in the Jīvita Navaka Rūpa Kalāpa called the Digestive Fire Pācaka Tejo dhātu which can digest food in the body.  They (the new Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa) are the Āhāraja Rūpa produced by Utuja Ojā.  When each and every Kammaja Ojā, Cittaja Ojā, Utuja Ojā and earlier preceding Āhāraja Ojā get the support of that Āhāraja Ojā, each of them (Ojā) produces new Ojaṭṭhamaka RūpaKalāpa also.  They (these new Ojaṭṭhamaka Rūpa) are the Āhāraja Rūpa produced by each of those Ojā.  Then also, the Ojā in each of these Āhāraja Rūpa is Āhāraja Ojā.  This is how the Āhāraja Ojā which supports, gets the name Āhāraja Ojā.

Utuja Ojā trong Utuja Kalāpa được gọi là Kabaḷīkāra Āhāra – là thức ăn vừa được ăn – tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa khi chúng có được sự hỗ trợ từ Tejo dhātu trong Jīvita Navaka Rūpa Kalāpa được gọi là Lửa Tiêu Hóa Pācaka Tejo dhātu có thể tiêu hóa vật thực trong cơ thể. Chúng (Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa mới) là Āhāraja Rūpa được tạo bởi Utuja Ojā. Khi mỗi và tất cả Kammaja Ojā, Cittaja Ojā, Utuja Ojā và Āhāra Ojā sớm hơn trước đó được sự hỗ trợ của Āhāraja Ojā đó, mỗi Ojā của chúng đó cũng tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa. Chúng (những Ojaṭṭhamaka Rūpa mới này) là Āhāraja Rūpa được tạo nên bởi các Ojā đó. Rồi cũng vậy, Ojā trong mỗi Ahāraja Rūpa này là Ahāraja Ojā. Đây là cách làm sao Ahāraja Ojā hỗ trợ có tên Āhāraja Ojā.

The power of the 4 Āhāra

Năng lực của 4 Āhāra

1) Kabaḷīkārāhāra brings forth=produces Ojaṭṭhamaka Rūpa,

1) Kabaḷīkārāhāra mang đến = tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa,

2) Phassāhāra brings forth=produces 3 types of Vedanā,

2) Phassāhāra mang đến = tạo nên 3 loại Vedanā,

3) Manosañcetanāhāra brings forth=produces 3 types of existence (Bhava),

3) Manosañcetanāhāra mang đến = tạo nên 3 loại hữu (Bhava),

4) Viññāṇāhāra brings forth=produces Paṭisandhi NāmaRūpa.

4) Viññāṇāhāra mang đến = tạo nên Paṭisandhi NāmaRūpa.

1) Kabaḷīkārāhāra:-  As explained above Kabaḷīkārāhāra brings forth Ojaṭṭhamaka Rūpa by producing Ojaṭṭhamaka Rūpa where Ojā is the 8th.

1) Kabaḷīkārāhāra:- như đã trình bày ở trên Kabaḷīkārāhāra mang đến Ojaṭṭhamaka Rūpa bằng cách tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa mà Ojā là thứ 8.

2) Phassāhāra:-  Only when the Phassa which has the power to produce Sukha Vedanā arises then Phassāhāra brings forth Sukha Vedanā.  Only when the Phassa which has the power to produce Dukkha Vedanā arises then Phassāhāra brings forth Dukkha Vedanā.  Only when the Phassa which has the power to produce Upekkhā Vedanā arises then Phassāhāra brings forth Upekkhā Vedanā.  It means to produce.

2) Phassāhāra: – chỉ khi Phassa, có năng lực tạo nên Sukha Vedanā, sanh thì Phassāhāra mang đến Sukha Vedanā. Chỉ khi Phassa, có năng lực tạo nên Dukkha Vedanā, sanh thì Phassāhāra mang đến Dukkha Vedanā. Chỉ khỉ Phassa, có năng lực tạo nên Upekkhā Vedanā, sanh thì Phassāhāra mang đến Upekkhā Vedanā. Đây là ý nghĩa của tạo nên.

3) Manosañcetanāhāra:-  The Kamma which causes to reach the KāmaBhava state of existence, brings forth=produces KāmaBhava state of existence.  The Kamma which causes to reach the Rūpa Bhava or Arūpa Bhava state of existence, brings forth=produces the appropriate state of existence Bhava in accordance with the Kamma.  Thus, Manosañcetanā brings forth=produces the 3 types of existence, Bhava.

3) Manosañcetanāhāra:- Kamma mà làm cho đạt đến trạng thái của hữu KāmaBhava, mang đến = tạo nên trạng thái của hữu KāmaBhava. Kamma mà làm cho đạt đến Rūpa Bhava hay Arūpa Bhava của hữu, mang đến = tạo nên trạng thái thích hợp của hữu Bhava tương ứng với Kamma. Như vậy, Manosañcetanā mang đến = tạo nên 3 loại hữu, Bhava.

4) Viññāṇāhāra:-  Viññāṇāhāra brings forth=produces the Sampayutta Nāma Khandhā which accompany with it and the Kammaja Rūpa at the moment of Paṭisandhi by means of Paccaya Satti such as Sahajāta etc… (Saṁyutta Commentary-Vol.II-25, Burmese script).

4) Viññāṇāhāra:- Viññāṇāhāra mang đến = tạo nên Sampayutta Nāma Khandhā đồng sanh với nó và Kammaja Rūpa vào lúc Paṭisandhi bằng Paccaya Satti như là Sahajāta… (Saṁyutta Commentary- Vol.II-25, Burmese script).

Ettha ca “Manosañcetanā tayo bhave āharatī”ti sāsavakusalākusala cetanāva vuttā.  “Viññāṇaṁ paṭisandhi nāmarūpam āharatī”ti paṭisandhiviññāṇameva vuttaṁ.  Avisesena pana taṁ samupayuttataṁ samuṭṭhānadhammānaṁ āharaṇatopete “āhārā”ti veditabbā (Saṁyutta Commentary-Vol. II-25).

Ettha ca “Manosañcetanā tayo bhave āharatī”ti sāsavakusalākusala cetanāva vuttā. “Viññāṇaṁ paṭisandhi nāmarūpam āharatī”ti paṭisandhiviññāṇameva vuttaṁ. Avisesena pana taṁ samupayuttataṁ samuṭṭhānadhammānaṁ āharaṇatopete “āhārā”ti veditabbā (Saṁyutta Commentary-Vol. II-25).

Sāsavakusalākusala cetanāva vuttā visesapaccayabhāvadassanaṁ hotanti.  Tenāha

Sāsavakusalākusala cetanāva vuttā visesapaccayabhāvadassanaṁ hotanti.  Tenāha

avisesena panā”ti ādi.  Paṭisandhiviññāṇameva vuttanti esevanayo.  Yathā tassa tassa phalassa visesato paccayatāya etesam āhārattho.  Evaṁ avisesatopīti dassetuṁ  “avisesenā”ti ādi vuttaṁ (Saṁyutta Ṭīka-Vol. II-28,29  Burmese script).

avisesena panā”ti ādi.  Paṭisandhiviññāṇameva vuttanti esevanayo.  Yathā tassa tassa phalassa visesato paccayatāya etesam āhārattho.  Evaṁ avisesatopīti dassetuṁ  “avisesenā“ti ādi vuttaṁ (Saṁyutta Ṭīka-Vol. II-28,29  Burmese script).

– Take note that the statement “Manosañcetanā brings forth=produces the 3 types of existence, Bhava” refers to the Kusala Cetanā and Akusala Cetanā which are the object of Āsava which has the power to ‘rotate’ the Saṁsarā Vatta rounds of suffering.  It is mentioned like that because they are the specific Cause in turning the Saṁsarā Vaṭṭa rounds of suffering.  Understand that ordinarily all Lokiya mundane Cetanā (Kusala, Akusala, Abyākata) are the Causes which produces both the group of Nāma dhamma that accompany it and the Cittaja Rūpa.

– Lưu ý đối với câu “Manosañcetanā mang đến = tạo nên 3 loại hữu, Bhava” liên hệ đến Kusala Cetanā và Akusala Cetanā là đối tượng của Āsava có năng lực ‘luân chuyển’ vòng luân chuyển của khổ Saṁsarā Vatta. Việc đề cập như vậy là bởi chúng là Nhân đặc biệt trong việc xoay chuyển Khổ luân Saṁsara vatta. Nên hiểu rằng thông thường thì tất cả Cetanā của hiệp thế Lokiya (Kusala, Akusala, Abyākata) là Nhân tạo nên cả nhóm Nāma dhamma đồng sanh với nó và Cittaja Rūpa.

In the statement, “Viññāṇaṁ paṭisandhi nāmarūpam āharatī” – “Viññāṇa brings forth=produces Paṭisandhi NāmaRūpa”, it refers only to Paṭisandhi Viññāṇa.  Ordinarily Viññāṇa is called “Āhāra” because it brings forth the accompanying Sampayutta dhamma and the Cittaja Rūpa.

Trong câu, “Viññāṇaṁ paṭisandhi nāmarūpam āharati” – “Viññāṇa mang đến = tạo nên Paṭisandhi NāmaRūpa”, nó chỉ liên hệ đến Paṭisandhi Viññāṇa. Thông thường, Viññāṇa được gọi là “Ahāra” bởi nó mang đến các Sampayutta dhamma đồng sanh và Cittaja Rūpa.

(1) Among the 4 Āhāra, Kabaḷīkāra Āhāra (=Catusamuṭṭhānika Ojā) completed the function of Āhāra Kicca=the function of bringing forth by producing new Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa, as explained above, and supporting the Catusamuṭṭhānika Rūpa.

 (1) Trong 4 loại Āhāra, Kabaḷīkāra Āhāra (=Catusamuṭṭhānika Ojā) hoàn tất chức năng của Āhāra Kicca = chức năng mang đến bằng cách tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa Kalāpa mới, như đã giải thích ở trên, và hỗ trợ cho Catusamutṭhānika Rūpa.

(2) Phassāhāra completed the function of Āhāra=function of bringing forth Vedanā only when there is contact\’touching’ with the object.

(2) Phassāhāra hoàn tất chức năng của Āhāra = chức năng chỉ mang đến Vedanā khi có sự tiếp xúc\chạm với cảnh.

(3) Manosañcetanā can perform the Āhāra Kicca i.e. can bring forth= produce the 3 types of state of existence after having impelled\urged the mind or when it can put effort so that the Cause and Effect arise and are linked.

(3) Manosañcetanā có thể thực hiện Āhāra Kicca, tức là có thể mang đến = tạo nên  3 loại trạng thái của hữu sau khi thúc\hối tâm hay khi nó có thể nỗ lực để cho Nhân và Quả sanh lên và được liên kết.

(4) Viññāṇa=Paṭisandhi Viññāṇa can complete the Āhāra Kicca function of producing the Sampayutta dhamma and Kammaja Rūpa or Cittaja Rūpa only when it knows the object distinguishingly by considering the arising of the Khandhā, Upapatti  (Saṁyutta Commentary-Vol.II-25, Burmese script)

(4) Viññāṇa = Paṭisandhi Viññāṇa có thể hoàn tất chức năng Āhāra Kicca trong việc tạo nên Sampayutta dhamma và Kammaja Rūpa hay Cittaja Rūpa chỉ khi nó biết cảnh riêng biệt qua việc nhận ra sự sanh của Khandhā, Upapatti (Saṁyutta Commentary-Vol.II-25, Burmese script)

(1) Kabaḷīkārāhāra is the Cause of the continuance of living beings by producing Ojaṭṭhamaka Rūpa and by supporting the Catusamuṭṭhānika Rūpa; sustaining the Rūpa Kāya so that the Rūpa Santati continuity process in unbroken.  Although it is true that the Rūpa Kāya is produced by Kamma, when Kabaḷīkārāhāra support it to be strong it can be sustained for the whole 10 years or the whole 100 years, i.e. until the end of the life span.  How is it that although a baby is born from the mother, being brought up, can exist for a long time only if the wet-nurse feed him milk…etc?  Just as a house which is supported by wooden props does not collapse, similarly the Rūpa Kāya which is sustaining on Āhāra can stand still without collapsing because of Āhāra.

(1) Kabaḷīkārāhāra là Nhân của sự liên tục của chúng sanh bằng việc tạo nên Ojaṭṭhamaka Rūpa và bằng việc hỗ trợ Catusamuṭṭhānika Rūpa; duy trì Rūpa Kāya để sự diễn tiến liên tục Rūpa Satati không bị đổ vỡ. Mặc dù đúng là Rūpa Kāya được tạo nên bởi Kamma, khi Kabaḷīkārāhāra hỗ trợ nó để trở nên mạnh mẽ, nó có thể được duy trì cho suốt cả 10 năm hay suốt 100 năm, tức là cho đến lúc kết thúc thọ mạng. Làm thế nào mà mặc dù đứa bé được sanh từ mẹ, được nuôi lớn, có thể sống sót lâu dài chỉ khi vú nuôi cho nó bú sữa…? Cũng giống như một ngôi nhà được đỡ bằng các cột gỗ thì không bị sập, tương tự như Rūpa Kāya, được duy trì nhờ Āhāra, có thể đứng vững mà không bị đổ sập xuống là do bởi Āhāra.

Although Kabaḷīkārāhāra has completed the Āhāra Kicca function in supporting Catusamuṭṭhānika Rūpa, it is the Cause of 2 types of Rūpa Santati continuity process which are ĀhāraSamuṭṭhāna Rūpa and Upādiṇṇaka Rūpa=Kammaja Rūpa.  It supports Kammaja Rūpa by Anupālaka Satti=to protect\look after and support ĀhāraSamuṭṭhāna Rūpa=Āhāraja Rūpa by Janaka Satti=to produce directly.

Mặc dù Kabaḷīkārāhāra đã hoàn tất chức năng Āhāra Kicca trong sự hỗ trợ  Catusamuṭṭhānika Rūpa, nó là Nhân của 2 loại diễn tiến liên tục Rūpa Santati là các ĀhāraSamuṭṭhāna Rūpa và Upādiṇṇaka Rūpa = Kammaja Rūpa. Nó hỗ trợ Kammaja Rūpa bằng Anupālaka Satti = bảo vệ\chăm sóc và hỗ trợ, ĀhāraSamuṭṭhāna Rūpa = Ahāraja Rūpa bằng Janaka Satti = tạo nên trực tiếp.

(2) Phassāhāra is the Cause of the continuance of living beings by producing Vedanā such as Sukha Vedanā after having touched (contact) the object which is the “standing place” of Vedanā such as Sukha Vedanā.

(2) Phassāhāra, là Nhân của sự liên tục của chúng sanh tạo bằng cách tạo nên Vedanā như là Sukha Vedanā sau khi tiếp xúc (chạm) với cảnh, chính là “chỗ đứng” của Vedanā như là Sukha Vedanā.

3) Manosañcetanā is the Cause of the continuance of living beings because it is the fundamental root cause of the states of existence (Bhava) by doing & accumulating the Kamma i.e. Kusala Kamma and Akusala Kamma.

(3) Manosañcetanā là Nhân của sự liên tục của chúng sanh bởi nó là căn nguyên nền tảng của các trạng thái của hữu (Bhava) bằng việc làm & tích tập Kamma, tức Kusala Kamma và Akusala Kamma.

4) Viññāṇāhāra is the Cause of the continuance of living beings by producing NāmaRūpa, after having known the object distinguishingly.

(4) Viññāṇāhāra là Nhân của sự liên tục của chúng sanh bằng cách tạo nên NāmaRūpa, sau khi biết được cảnh riêng biệt.

Upādiṇṇarūpasantatiya upatthambhaneneva utucittajarūpasantatīnampi upatthambhanasiddhi hotīti “Dvinnam rūpasantatīna”nti vuttam.  Upatthambhanameva sandhāya “anupālako hutvā”ti ca vuttaṁ.  Rūpakāyassa thītihetutā hi yāpana anupālanā (Saṁyutta Ṭīka-Vol. II-25).

Upādiṇṇarūpasantatiya upatthambhaneneva utucittajarūpasantatīnampi upatthambhanasiddhi hotīti “Dvinnam rūpasantatīna”nti vuttam. Upatthambhanameva sandhāya “anupālako hutvā”ti ca vuttaṁ. Rūpakāyassa thītihetutā hi yāpana anupālanā (Saṁyutta Ṭīka-Vol. II-25).

The Commentary above explained that Kabaḷīkārāhāra supports Kammaja Rūpa=Upādiṇṇa Rūpa by Anupālaka Satti and support Āhāra Samuṭṭhāna Rūpa by Janaka Satti.  By supporting Upādiṇṇa Rūpa=Kammaja Rūpa Santati continuity process, the function of supporting UtujaRūpa and Cittaja Rūpa Santati process is also done.  Therefore supporting both Upādiṇṇa Rūpa=Kammaja Rūpa and Āhāraja Rūpa Santati continuity processes by means of ĀhāraPaccaya Satti is mentioned.  The Commentary mentioned that Anupālaka Satti refers to the nature of supporting, Upatthambhana.  Being the Cause of the continuance of one whole RūpaKāya is called Anupālanā, protecting\looking after.

Chú giải ở trên giải thích rằng Kabaḷīkārāhāra hỗ trợ Kammaja Rūpa = Upādiṇṇa Rūpa bằng Anupālaka Satti và hỗ trợ Āhāra Samuṭṭhāna Rūpa bằng Janaka Satti. Bằng hỗ trợ Upādiṇṇa Rūpa = quá trình liên tục Kammaja Rūpa Santati, chức năng của việc hỗ trợ UtujaRūpa và Cittaja Rūpa Santati cũng được hoàn thành. Bởi thế sự hỗ trợ cả hai Upādiṇṇa Rūpa = các tiến trình liên tục Kammaja Rūpa và Āhāraja Rūpa Santati bằng ĀhāraPaccaya Satti được nêu lên. Chú giải đề cập rằng Anupālaka Satti liên hệ đến bản chất của hỗ trợ, Upattambhana. Là Nhân của sự liên tục của một toàn thể RūpaKāya được gọi là Anupālanā, bảo vệ\chăm sóc.

Essential Points – For the discernment

Những điểm quan trọng – cho phép quán

These are the 2 ways to regard “Āhāra”:

Có hai cách liên hệ đến “Āhāra”:

     1) as the Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra and

1) là 4 Āhāra của Vipāka Vaṭṭa và

     2) as the Kamma Vaṭṭa 4 Āhāra.

2) là 4 Āhāra của Kamma Vaṭṭa.

Taking the Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra as “Āhāra” is mentioned in Āhāra Sutta Commentary (Saṁyutta Commentary-Vol.II-27, Burmese script); and taking the Kamma Vaṭṭa 4 Āhāra which are Kamma Vaṭṭa as “Āhāra” is mentioned in Saṁyutta Commentary-Vol.II-25, MūlaṬīka Subcommentary-Vol. II-86 and MahāṬīka Subcommentary-Vol. II-245 (Burmese script).  If the meditator wants to discern beginning from the Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra then he is to discern as follows, beginning from the 4 Vipāka Vaṭṭa dhamma (states) at the moment of Paṭisandhi.  The meditator can also discern beginning from the Vipāka Vaṭṭa states that are arising throughout the life in the same way.

Lấy 4 loại Āhāra của Vipāka Vaṭṭa làm “Āhāra” được đề cập trong Chú giải Āhāra Sutta (Saṁyutta Commentary-Vol.II-27, Burmese Script); và lấy 4 loại Āhāra của Kamma Vaṭṭa làm “Āhāra” được đề cập trong Saṁyutta Commentary-Vol.II-25, Mūla Ṭika Subcommentary-Vol.II-86 và MahāṬika Subcommentary-Vol.II-245 (Burmese Script). Nếu hành giả muốn quán bắt đầu từ 4 loại Āhāra của Vipāka Vaṭṭa thì vị ấy cần quán như sau, bắt đầu từ 4 Vipāka Vaṭṭa dhamma ở sát-na Paṭisandhi. Hành giả cũng có thể quán bắt đầu từ trạng thái Vipāka Vaṭṭa mà đang sanh lên trong suốt cuộc sống theo cùng cách.

Discernment beginning from Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra

Quán bắt đầu từ 4 loại Āhāra của Vipāka Vaṭṭa.

If your Paṭisandhi is Tihetuka Somanassa Paṭisandhi then at the moment of your Paṭisandhi there were 34 Nāma dhamma and 30 Kammaja Rūpa.  At that moment of Paṭisandhi the 4 Āhāra are as follows:

Nếu Paṭisandhi của quý vị là Tihetuka Somanassa Paṭisandhi thì vào sát-na Paṭisandhi có 34 Nāma dhamma và 30 Kammaja Rūpa. Vào sát-na Paṭisandhi có 4 Āhāra như sau:

     1) Kabaḷīkārāhāra = the Kammaja Ojā which is part of the 30 Kammaja Rūpa,

1) Kabaḷīkārāhāra = Kammaja Ojā là một một phần của 30 Kammaja Rūpa,

     2) Phassāhāra = the Phassa which is accompanied with Paṭisandhi Viññāṇa,

2) Phassāhāra = Phassa đồng sanh với Paṭisandhi Viññāṇa,

     3) Manosañcetanāhāra = the Cetanā which is accompanied with Paṭisandhi Viññāṇa.

3) Manosañcetanāhāra = Cetanā đồng sanh với Paṭisandhi Viññāṇa.

     4) Viññāṇāhāra = Paṭisandhi Viññāṇa.

4) Viññāṇāhāra = Paṭisandhi Viññāṇa.

Discern beginning with these 4 Āhāra.  In discerning like that, if divide into periods then it is as follows:

Quán bắt đầu với 4 loại Āhāra này. Khi quán như vậy, nếu chia thành các giai đoạn thì quán như sau:

     1) the 4 Āhāra (=the Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra) are of the Present,

1) 4 loại Āhāra (=4 loại Āhāra của Vipāka Vaṭṭa) là của Hiện tại,

     2) Bhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa are of the 1st Past life,

2) Bhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa là của kiếp Quá khứ thứ 1,

     3) Saṅkhāra-Avijjā are of the 2nd Past life.

3) Saṅkhāra-Avijjā là của kiếp quá khứ thứ 2.

Discern in this way towards the successive Pasts and successive Futures, linking the Causal Relationships between 3 lives.  You can also discern in the same way beginning with the remaining Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra.

Quán theo cách này hướng đến những kiếp Quá khứ và Tương lai kế tiếp xa hơn, liên kết Quan hệ Nhân Quả giữa 3 kiếp sống. Hành giả cũng có thể quán theo cùng cách, bắt đầu với 4 loại Āhāra của Vipāka Vaṭṭa còn lại.

Discernment beginning from Kamma Vaṭṭa 4 Āhāra

 Quán bắt đầu từ Kamma Vaṭṭa 4 Āhāra.

If you want to discern beginning from the 4 Āhāra which are part of Kamma Vaṭṭa then discern beginning with the Kamma Vaṭṭa dhamma (states) which is being done and accumulated by yourself for the Future rounds of Saṁsarā.  Let’s say if you are accumulating many Kamma with the aspiration to become a monk in the Future life who can attain Arahatship, then choose one of those Kammas which you remember.  The 4 Āhāra which are arising while doing that Kamma are as follows:

Nếu hành giả muốn quán bắt đầu từ 4 Āhāra là thành phần của Kamma Vaṭṭa  thì quán bắt đầu với Kamma Vaṭṭa dhamma đang được làm và tích tập bởi bản thân hành giả cho vòng Saṁsarā Tương lai. Có thể nói nếu hành giả đang tích tập nhiều Kamma với ước nguyện trở thành một tu sĩ trong kiếp Tương lai mà là người có thể chứng đắc thánh quả Arahant, thì chọn một trong những Kamma mà hành giả nhớ. 4 Āhāra sanh lên trong khi làm Kamma đó là như sau:

     1) Each and every CatuSamuṭṭhānika Ojā which is part of the 54 types of CatuSamuṭṭhānika Rūpa which exist in the heart (in other words, each and every CatuSamuṭṭhānika Ojā which exist in the body) while doing the Kamma is Kabaḷīkārāhāra,

1) Mỗi và tất cả CatuSamuṭṭhānika Ojā là thành phần của 54 loại CatuSamuṭṭhānika Rūpa hiện diện trong trái tim (nói cách khác, mỗi và tất cả CatuSamuṭṭhānika Ojā có mặt trong thân) trong khi làm Kamma là Kabaḷīkārāhāra,

     2) the Phassa in that Kusala Nāma dhamma group is Phassāhāra,

2) Phassa trong nhóm Kusala Nāma dhamma là Phassāhāra,

     3) the Cetanā then is Manosañcetanāhāra,

3) Cetanā lúc đó là Manosañcetanāhāra,

     4) the consciousness=Kusala Viññāṇa then is Viññāṇāhāra (=Kamma Viññāṇa).

4) thức = Kusala Viññāṇa lúc đó là Viññāṇāhāra (=Kamma Viññāṇa).

Begin with discerning these 4 Āhāra.  Phassa, Cetanā and Viññāṇa are the group of Kusala Saṅkhāra dhamma called Kamma Bhava which are part of Kamma Vaṭṭa.

Bắt đầu với việc quán 4 Āhāra này. Phassa, Cetanā và Viññāṇa, là nhóm Kusala Saṅkhāra dhamma được gọi là Kamma Bhava, là một phần của Kamma Vaṭṭa.

1) Kamma Bhava = 4 Āhāra-Upādāna-Taṇhā-(Avijjā)-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa(=Vipāka Viññāṇa) are the Present dhamma group,

1) Kamma Bhava = 4 Āhāra-Upādāna-Taṇhā-(Avijjā)-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa (=Vipāka Viññāṇa) là nhóm dhamma Hiện tại,

2) Saṅkhāra-Avijjā are the 1st Past dhamma group.

2) Saṅkhāra-Avijjā là nhóm dhamma Quá khứ thứ 1.

Understand that it is based on this example for the discernment of the successive Pasts and successive Futures.

Cần hiểu rằng dựa trên ví dụ này để thực hiện phép quán các kiếp Quá khứ và Tương lai kế tiếp khác.

Another way of discernment mentioned

Cách quán khác được đề cập

Āhāra vā taṇhāya pabhāvetabbā anāgato addhā, taṇhādayo paccuppannā, saṅkhārāvijjā atītoti (Mūla Ṭīka-Vol. II-86; Mahā Ṭīka-Vol.II-244, 245   Burmese script).

Āhāra vā taṇhāya pabhāvetabbā anāgato addhā, taṇhādayo paccuppannā, saṅkhārāvijjā atītoti (Mūla Ṭīka-Vol. II-86; Mahā Ṭīka-Vol.II-244, 245 Burmese script).

Take the 4 Āhāra which arise at the moment of the Future Paṭisandhi produced by the Taṇhā (=the Kamma surrounded by Avijjā-Taṇhā-Upādāna) accumulated in this Present life as the “Cattāro Āhāra” (“4 Āhāra”) mentioned in Āhāra Sutta.  If the Future Paṭisandhi is Tihetuka Somanassa Paṭisandhi then there will be 34 Nāma dhamma in Paṭisandhi.  Take as object the Future Paṭisandhi of the monk life who can attain Arahatship which you aspired.  In that Future Paṭisandhi dhamma group:

Lấy 4 Āhāra mà sanh lên ở sát-na Paṭisandhi Tương lai được tạo nên bởi Taṇhā (=Kamma bị vây quanh bởi Avijjā-Taṇhā-Upādāna) được tích tập trong kiếp sống Hiện tại này là “Cattāro Āhāra” (“4Āhāra”) được đề cập trong kinh Āhāra. Nếu Paṭisandhi Tương lai là Tihetuka Somanassa Paṭisandhi thì sẽ có 34 Nāma dhamma trong Paṭisandhi. Lấy đối tượng là Paṭisandhi Tương lai của kiếp sống tu sĩ, là người có thể chứng Thánh quả Arahat, mà hành giả đã ước nguyện. Trong nhóm Paṭisandhi dhamma Tương lai đó:

     1) Kammaja Ojā which are part of the Kammaja Rūpa are Kabaḷīkārāhāra,

1) Kammaja Ojā, là thành phần của Kammaja Rūpa, là Kabaḷīkārāhāra,

     2) the Phassa accompanying with Paṭisandhi Viññāṇa is Phassāhāra,

2) Phassa đồng sanh với Paṭisandhi Viññāṇa là Phassāhāra,

     3) the Cetanā accompanying with Paṭisandhi Viññāṇa is Manosañcetanāhāra,

3) Cetanā đồng sanh với Paṭisandhi Viññāṇa là Manosañcetanāhāra,

     4) the Paṭisandhi Viññāṇa is Viññāṇāhāra.

4) Paṭisandhi Viññāṇa là Viññāṇāhāra.

1) These 4 Āhāra are the Future period’s dhamma group,

1) 4 Āhāra này là nhóm dhamma thuộc thời Tương lai,

2) Taṇhā…etc (=KammaBhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa) which is the root Cause of that Future 4 Āhāra are the Present period’s dhamma group,

2) Taṇhā… (=KammaBhava-Upādāna-Taṇhā-Vedanā-Phassa-Saḷāyatana-NāmaRūpa-Viññāṇa), là Căn Nguyên của 4 Āhāra Tương lai đó, là nhóm dhamma thuộc thời Hiện tại

3) Saṅkhāra & Avijjā are the Past period’s dhamma group.

3) Saṅkhāra & Avijjā là nhóm dhamma thuộc thời Quá khứ.

In this way all 3 periods of Future-Present-Past are included.  In this discernment, it is to gradually discern the relationship between Effect and Cause, in reverse order, beginning from the 4 Āhāra which is the Future Paṭisandhi until Avijjā which is the Past period dhamma.

Theo cách này, tất cả 3 thời Tương lai-Hiện tại-Quá khứ được bao gồm. Trong phép quán, lần lượt quán mối quan hệ giữa Nhân và Quả, theo chiều ngược, bắt đầu từ 4 Āhāra là Paṭisandhi Tương lai cho đến Avijjā là dhamma thuộc thời Quá khứ.


MỤC LỤC

Paṭicca Samuppāda Vibhaṅga Pāḷi – Suttanta Bhājanīya Method. 1

Paṭicca Samuppāda Vibhaṅga Pāḷi – Phương Pháp Suttanta Bhājanīya. 1

12 Factors Of Paṭicca Samuppāda. 11

12 chi của Paṭicca Samuppāda. 11

Three Periods12

Ba thời12

Three Links13

Ba liên kết13

Four Groups13

Bốn Nhóm.. 13

20 States14

20 Hành tướng. 14

Each Own. 16

Của mỗi người16

AVIJJĀPACCAYĀ SAṄKHĀRĀ. 16

AVIJJĀPACCAYA SAṄKHĀRA. 16

SAṄKHĀRAPACCAYĀ VINNANAṂ. 17

SAṄKHĀRAPACCAYĀ VINNANAṀ. 17

Viññāṇa. 18

Viññāṇa. 18

Vipāka Viññāṇa = Vipāka Manoviññāṇa. 19

Vipāka Viññāṇa = Vipāka Manoviññāṇa. 19

The Discernment Of Vīthi Mutta Citta. 19

Quán Vīthi Mutta Citta. 19

Cakkhudvāra Vīthi Vipāka Viññāṇas20

Cakkhudvāra Vīthi Vipāka Viññāṇa. 20

VIÑÑĀṆAPACCAYĀ NĀMARŪPAṂ. 21

VIÑÑĀṆAPACCAYĀ NĀMARŪPAṀ. 21

Kamma Viññāṇa = Abhisaṅkhāra Viññāṇa. 21

Kamma Viññāṇa = Abhisaṅkhāra Viññāṇa. 21

Nāma Rūpa. 22

Nāma Rūpa. 22

Some Examples Of The Discernment22

Một vài ví dụ của việc quán. 22

CakkhuDvāra Vīthi – Vipāka NāmaRūpa. 23

CakkhuDvāra Vīthi – Vipāka NāmaRūpa. 23

Saṅkhāra And Kamma Bhava (= Kamma)23

Saṅkhāra và Kamma Bhava (=Kamma)23

Because Of The Arising Of Sahajāta Viññāṇa, Sahajāta NāmaRūpa Arise. 25

Bởi sự sanh của Sahajāta Viññāṇa, Sahajāta NāmaRūpa sanh.25

NĀMARŪPAPACCAYĀ SAĀYATANAṂ. 28

NĀMARŪPAPACCAYĀ SAĀYATANAṀ. 28

A) Nāma Supports Manāyatana. 28

A) Nāma hỗ trợ Manāyatana. 28

(Because of the arising of Nāma, Manāyatana arises)28

(Bởi sự sanh của Nāma, Manāyatana sanh.)28

B) Because Of The Arising Of Nāma, Āyatanarūpa Arises30

B) Bởi sự sanh của Nāma, Āyatanarūpa sanh.30

Another Way: Discernment As A Whole. 33

Cách khác: Quán Là Một Tổng thể. 33

C) Because Of The Arising Of Rūpa, Āyatana Rūpa Arises34

C) Bởi sự sanh của Rūpa, Āyatana Rūpa sanh.34

D) Because Of The Arising Of Rūpa, Manāyatana Arises35

D) Bởi sự sanh của Rūpa, Manāyatana sanh.35

Some Examples Of The Discernment36

Vài Ví Dụ Quán:36

E) Because Of The Arising Of NāmaRūpa, Manāyatana Arises38

E) Bởi sự sanh của NāmaRūpa, Manāyatana sanh. 38

Some Of The Discernment38

Các tiến trình quán:38

Discern Base On Those Methods39

Quán Dựa Trên Những Phương Pháp Trên. 39

SAĀYATANAPACCAYĀ PHASSO. 40

SAĀYATANAPACCAYĀ PHASSO. 40

Some Of The Discernment41

Vài Tiến Trình Quán:41

PHASSAPACCAYĀ VEDANĀ. 46

PHASSAPACCAYĀ VEDANĀ. 46

CAKKHUSAMPHASSAJĀ VEDANĀ + CAKKHUSAMPHASSAPACCAYĀ  VEDANĀ. 46

CAKKHUSAMPHASSAJĀ VEDANĀ + CAKKHUSAMPHASSAPACCAYĀ VEDANĀ. 46

VEDANĀPACCAYĀ  TAṆHĀ. 50

VEDANĀPACCAYĀ TĀṆHĀ. 50

Anāgāta Vaṭṭa Kathā. 52

Anāgāta Vaṭṭa Kathā. 52

Some of the discernment52

Một Vài Phép Quán.52

TAṆHĀPACCAYĀ UPĀDĀNAṂ. 53

TAṆHĀPACCAYĀ UPĀDĀNAṀ. 53

Another Type Of Discernment54

Cách Quán Khác54

The Vīthis of Taṇhā and UpādānaManodvāraVīthi55

Vīthi của Taṇhā và Upādāna ManodvāraVīthi55

Take Note. 56

Lưu Ý. 56

UPĀDĀNAPACCAYĀ BHAVO. 56

UPĀDĀNAPACCAYĀ BHAVO. 56

Essential Points57

Những Điểm Quan Trọng. 57

Some of the discernment58

Tiến Trình Quán. 58

Manodvārika Javana Vīthi Citta Process58

Lộ Manodvārika Javana Vīthi Citta. 58

BHAVAPACCAYĀ JĀTI59

BHAVAPACCAYĀ JĀTI59

JĀTIPACCAYĀ JARĀMARAṆAṂ. 60

JĀTIPACCAYĀ JARĀMARAṆAṀ. 60

Soka-Parideva-Dukkha-Domanassa-Upāyāsa. 60

Soka-Parideva-Dukkha-Domanassa-Upāyāsa. 60

Soka-Parideva-Domanassa-Upāyāsa Vīthi Process61

Tiến Trình Soka-Parideva-Domanassa-Upāyāsa Vīthi61

FOUR METHODS OF TEACHING PAṬICCA SAMUPPĀDA. 62

BỐN PHƯƠNG PHÁP DẠY PAṬICCA SAMUPPADA. 62

2) Anuloma Paṭicca Samuppāda 2nd Method. 65

2) Anuloma Paṭicca Samuppāda Theo Phương Pháp thứ 2. 65

3)From the end till the beginning=Paṭiloma Paṭicca Samuppāda 1st Method. 67

3) Từ cuối cho đến đầu = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda theo thứ 1. 67

Some examples of the discernment68

Vài Ví Dụ Quán. 68

4) From the middle till the beginning=Paṭiloma Paṭicca Samuppāda (2nd method)69

4) Từ giữa cho đến bắt đầu = Paṭiloma Paṭicca Samuppāda (phương pháp thứ 2)69

Kabaḷīkāra Āhāra. 71

Kabaḷīkāra Āhāra. 71

The power of the 4 Āhāra. 72

Năng lực của 4 Āhāra. 72

Essential Points – For the discernment75

Những điểm quan trọng – cho phép quán. 75

Discernment beginning from Vipāka Vaṭṭa 4 Āhāra. 76

Quán bắt đầu từ 4 loại Āhāra của Vipāka Vaṭṭa.76

Discernment beginning from Kamma Vaṭṭa 4 Āhāra. 76

Quán bắt đầu từ Kamma Vaṭṭa 4 Āhāra.76

Another way of discernment mentioned. 77

Cách quán khác được đề cập. 77

 

| Để lại bình luận

TỪ UDAYABBAYA ÑĀṆA ĐẾN ARIYAMAGGA ÑĀṆA

Udayabbaya to Sankhara En-Vi 18-12

Udayabbaya to Sankhara Vi 18-12

Theravāda – Rừng Thiền Pa-Auk

TỪ UDAYABBAYA ÑĀṆA ĐẾN ARIYAMAGGA ÑĀṆA

VIPASSANĀ KAMMAṬṬHĀNA

                                                                                                                                                                    

 

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

UDAYABBAYA-ÑĀṆA STAGE

GIAI ĐOẠN UDAYABBAYA-ÑĀṆA

RŪPA AND NĀMA METHOD + 5 KHANDHA METHOD

PHƯƠNG PHÁP RŪPA VÀ NĀMA + PHƯƠNG PHÁP 5 KHANDHA

The objects of udayabbaya-ñāṇa are khandhā, āyatana, dhātu, saccā, paṭiccasamuppāda factors. As for the paṭiccasamuppāda factors, only the factors from avijjā to bhava are included in the list of the objects of udayabbyānupassanā-ñāṇa.(paṭisaṁ. 52)

Các đối tượng của udayabbaya-ñāṇa là khandhā, āyatana, dhātu, saccā, các chi của paṭiccasamuppāda. Đối với các chi của paṭiccasamuppāda, chỉ có các chi từ avijjā đến bhava là được bao gồm trong danh sách các đối tượng của udayabbyānupassanā-ñāṇa.(paṭisaṁ. 52)

Those who want to try to attain udayabbayānupassanāñāṇa firstly meditate vipassanā thoroughly sometimes on anicca lakkhaṇa, sometimes on dukkha lakkhaṇa, sometimes on anatta lakkhaṇa of the present (paccuppanna).

Những ai muốn cố gắng chứng đắc udayabbayānupassanāñāṇa thì trước tiên phải quán vipassanā kỹ lưỡng, một lúc trên đặc tính anicca, một lúc trên đặc tính dukkha, một lúc trên đặc tính anatta ở hiện tại (paccuppanna).

1. of just rūpa only (internally and externally alternately)

1. của chỉ rūpa (luân phiên nhau giữa ngoại thân và nội thân).

2. then of just nāma only (internally and externally alternately)

2. rồi của chỉ nāma (luân phiên nhau giữa ngoại thân và nội thân).

3. then of just nāma and rūpa together (internally and externally alternately)

3. rồi của chỉ nāma và rūpa cùng nhau (luân phiên nhau giữa ngoại thân và nội thân).

In meditating on just rūpa only or on just nāma only in every line of all the 6 types of vīthi such as cakkhudvāra vīthi, meditate until attaining khaṇapaccuppanna. Similarly meditate vipassanā thoroughly by means of the 5 khandha method, sometime on anicca characteristics, sometimes on dukkha characteristic, sometimes on anatta characteristic until attaining khaṇapaccuppana of:

Trong việc quán trên chỉ rūpa hay chỉ nāma, trong mỗi dòng của tất cả 6 loại vīthi như cakkhudvāra vīthi, quán cho đến khi đạt được khaṇapaccuppanna. Tương tự quán vipassanā kỹ lưỡng theo phương pháp 5 khandha, 1 lúc trên đặc tính anicca, 1 lúc trên đặc tính dukkha, 1 lúc trên đặc tính anatta cho đến khi đạt được khaṇapaccuppanna của:

1. just rūpa only

1. chỉ rūpa

2. then just vedanā only

2. rồi chỉ vedana

3. then just saññā only

3. rồi chỉ saññā

4. then just saṅkhāra

4. rồi chỉ saṅkhāra

5. then just viññānṇa only.

5. rồi chỉ viññāṇa

Meditate one round on internal, then one round on external.

Quán 1 vòng trên nội thân, rồi 1 vòng trên ngoại thân.

Similarly meditate vipassanā on three characteristics alternately of the paṭiccasamuppāda factors namely avijjā-saṅkhāra-viññāna-nāmarūpa-salāyatana-phassa-vedanā-taṇhā-upādāna-bhava (= kammabhava + upapattibhava), having taken as object only the arising and perishing of these factors, without linking the causes and effects.

Tương tự, quán vipassanā luân phiên nhau trên 3 đặc tính của các chi của paṭiccasamuppāda tức là avijjā-saṅkhāra-viññāna-nāmarūpa-salāyatana-phassa-vedanā-taṇhā-upādāna-bhava (= kammabhava + upapattibhava), sau khi lấy đối tượng chỉ là sự sanh lên và diệt đi của các chi này mà không nối kết các nhân và các quả.

PAST, FUTURE, PRESENT, INTERNAL, EXTERNAL

QUÁ KHỨ, VỊ LAI, HIỆN TẠI, NỘI, NGOẠI

If the meditator is able to meditate vipassanā thoroughly until attaining khaṇapaccuppanna on the saṅkhāra dhamma of the present and if the insight is also clear then meditate vipassanā thoroughly

Nếu hành giả có thể quán vipassanā kỹ lưỡng cho đến khi đạt được khaṇapaccuppanna trên saṅkhāra dhamma của hiện tại và nếu minh sát vẫn còn rõ ràng thì quán vipassanā kỹ lưỡng

1. sometimes on anicca characteristics

1. Một lúc trên đặc tính anicca,

2. sometimes on dukkha characteristics

2. Một lúc trên đặc tính dukkha,

3. sometimes on anatta characteristics,

3. Một lúc trên đặc tính anatta.

From the successive past till the present, from the present till the last future by the nāma rūpa method and 5 khandha method, one round internally, one round externally of:

Từ kiếp quá khứ kế trước cho đến hiện tại, từ hiện tại cho đến kiếp vị lai cuối cùng theo phương pháp nāmā-rūpa và phương pháp 5 khandha, 1 vòng nội thân, 1 vòng ngoại thân của:

1. just rūpa only

1. chỉ rūpa

2. just nāma only

2. chỉ nāma

3. nāma and rūpa together and then

3. nāma và rūpa cùng với nhau và rồi

1. of just rūpa only

1. của chỉ rūpa

2. of just vedanā only

2. của chỉ vedanā

3. of just saññā only

3. của chỉ saññā

4. of just saṅkhāra only

4. của chỉ saṅkhāra

5. of just viññāna only.

5. của chỉ viññāna.

It is necessary to meditate for many times on anicca, then for many times on dukkha, then for many times on anatta. After meditated for many times like that the meditator can meditate for a rather long time, mainly on one of the characteristics which is best for him, If the meditator is satisfied and if the arising and perishing appear very clearly and quickly to the insight, attaining khaṇapaccuppanna then he can switch to meditate by the udayabbaya-ñāṇa detailed method.

Cần thiết phải quán nhiều lần trên anicca, rồi nhiều lần trên dukkha, rồi nhiều lần trên anatta. Sau khi quán nhiều lần như thế, hành giả có thể quán trong 1 thời gian tương đối dài, chủ yếu trên 1 trong các đặc tính mà hành giả thấy tốt nhất. Nếu hành giả thỏa mãn và nếu sự sanh lên và diệt đi xuất hiện rất rõ ràng và nhanh chóng đối với minh sát, chứng đạt khaṇapaccuppanna rồi thì hành giả có thể chuyển sang quán bằng phương pháp chi tiết của udayabbayañāṇa.

UDAYABBAYA-ÑĀṆA DETAILED METHOD OF MEDITATION

PHƯƠNG PHÁP THIỀN CHI TIẾT CỦA UDAYABBAYA-ÑĀṆA

1. SAMUDAYA-DHAMMĀNUPASSĪ = UDAYADASSANA = MEDITATION ON JUST ARISING ONLY

1. SAMUDAYA-DHAMMĀNUPASSĪ = UDAYADASSANA = QUÁN CHỈ TRÊN SỰ SANH

In Mahāsatipaṭṭhāna-sutta taught to meditate in 3 ways at every satipaṭṭhāna as:

Mahāsatipaṭṭhāna-sutta dạy quán theo 3 cách trong mỗi satipaṭṭhāna là:

1.samudayadhammānupassī

1.samudayadhammānupassī

2.vayadhammānupassī

2.vayadhammānupassī

3.samudayavayadhammānupassī.

3.samudayavayadhammānupassī.

Venerable Sāriputta, the general of the dhamma taught the meaning of that teaching in Paṭisambhidāmagga as ‘avijjā samudayā, rūpa samudayo’ etc. The meditator must practise the udayabbaya detailed method in accordance with those instructions. As an example, the rūpa khandhā and 4 nāma khandhā such as vedanā khandhā (in paṭisandhi) are show here. The meditator who has already completed the discernment of causal relationships = paṭicca samuppāda 5th method, will be able to meditate on the 5 khandhā in each mind moment (= in each mind shown in the tables of nāma kammaṭṭhāna). As in the discernment of causal relationship paṭiccasamuppāda 5th method, here it is to meditate to realize the causal relationships by insight.

Tôn Giả Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp dhamma giảng ý nghĩa của pháp trên trong Paṭisambhidāmagga là ‘avijjā samudayā, rūpa samudayo’… Hành giả phải thực hành phương pháp chi tiết của udayabbaya theo các chỉ dẫn đó. Lấy 1 ví dụ, rūpakkhandha và 4 nāma khandha như là vedana khandha (ở paṭisandhi) được trình bày ở đây. Hành giả là người đã hoàn tất pháp quán duyên sanh = paṭiccasamuppāda theo phương pháp thứ 5, sẽ có thể quán 5 khandha trong mỗi sát-na tâm (= trong mỗi sát-na tâm được trình bày trong các bảng của nāma kammaṭṭhāna). Trong pháp quán duyên sanh paṭiccasamuppāda theo phương pháp thứ 5, ở đây, cần phải quán để thấy rõ quan hệ nhân quả bằng minh sát.

RŪPAKKHANDHĀ

RŪPAKKHANDHĀ

1. Because of the arising of avijjā (20), paṭisandhi (kammaja) rūpa arises.

1. Do sự sanh của avijjā (20), paṭisandhi (kammaja) rūpa sanh.

2. Because of the arising of taṇhā (20), paṭisandhi (kammaja) rūpa arises.

2. Do sự sanh của taṇhā (20), paṭisandhi (kammaja) rūpa sanh.

3. Because of the arising of upādāna (20), paṭisandhi (kammaja) rūpa arises.

3. Do sự sanh của upādāna (20), paṭisandhi (kammaja) rūpa sanh.

4. Because of the arising of saṅkhāra (34), paṭisandhi (kammaja) rūpa arises.

4. Do sự sanh của saṅkhāra (34), paṭisandhi (kammaja) rūpa sanh.

5. Because of the arising of kamma (kammasatti force of 34), paṭisandhi (kammaja) rūpa arises.

5. Do sự sanh của kamma (lực kammasatti của 34), paṭisandhi (kammaja) rūpa sanh.

 * the arising of kammaja-rūpa

 * sự sanh của kammaja-rūpa

6. Because of the arising of citta, cittaja-rūpa arise.

6. Do sự sanh của citta, cittaja-rūpa sanh.

 * the arising of cittaja-rūpa

 * sự sanh của cittaja-rūpa

7. Because of the arising of utu, utuja-rūpa arise.

7. Do sự sanh của utu, utuja-rūpa sanh.

 * the arising of utuja-rūpa

 * sự sanh của utuja-rūpa

8. Because of the arising of āhāra, āhāraja-rūpa arise.

8. Do sự sanh của āhāra, āhāraja-rūpa sanh.

 * the arising of āhāraja-rūpa

 * sự sanh của āhāraja-rūpa

NOTE: There is only kammaja-rūpa at the time of paṭisandhi, especially at the time of the arising upāda of paṭisandhi. There are no cittaja-rūpa, utuja-rūpa, āhāraja-rūpa yet; they are shown only for the rūpakkhandhā existing in the subsequent mind moment.

Lưu ý: Chỉ có kammaja-rūpa ở thời điểm paṭisandhi, đặc biệt là vào giai đoạn sanh lên upāda của paṭisandhi. Chưa có cittaja-rūpa, utuja-rūpa, āhāraja-rūpa; chúng được trình bày chỉ dành cho rūpakkhandha hiện hữu ở các sát-na tâm sau đó.

PAṬISANDHI VEDANĀKKHANDHĀ

PAṬISANDHI VEDANĀKKHANDHĀ

1. Because of the arising of avijjā (20), paṭisandhi vedanā arise.

1. Do sự sanh của avijjā (20), paṭisandhi vedanā sanh.

2. Because of the arising of taṇhā (20), paṭisandhi vedanā arise.

2. Do sự sanh của taṇhā (20), paṭisandhi vedanā sanh.

3. Because of the arising of upādāna (20), paṭisandhi vedanā arise.

3. Do sự sanh của upādāna (20), paṭisandhi vedanā sanh.

4. Because of the arising of saṅkhāra (34), paṭisandhi vedanā arise.

4. Do sự sanh của saṅkhāra (34), paṭisandhi vedanā arise.

5. Because of the arising of kamma (kammasatti force of 34), paṭisandhi vedanā arise.

5. Do sự sanh của kamma (lực kammasatti của 34), paṭisandhi vedanā sanh.

6. Because of the arising of vatthu (= hadayavatthu), paṭisandhi vedanā arise.

6. Do sự sanh của vatthu (= hadayavatthu), paṭisandhi vedanā sanh.

7. Because of the arising of object (= object of paṭisandhi mind), paṭisandhi vedanā arise.

7. Do sự sanh của đối tượng (= đối tượng của tâm paṭisandhi), paṭisandhi vedanā sanh.

8. Because of the arising of phassa (= 34-vedanā = 33), paṭisandhi vedanā arise.

8. Do sự sanh của phassa (= 34-vedanā = 33), paṭisandhi vedanā sanh.

 * The arising of paṭisandhi vedanā.

 * Sự sanh của paṭisandhi vedanā.

PAṬISANDHI SAÑÑĀKKHANDHĀ

PAṬISANDHI SAÑÑĀKKHANDHĀ

1. Because of the arising of avijjā (20), paṭisandhi saññā arise.

1. Do sự sanh của avijjā (20), paṭisandhi saññā sanh.

2. Because of the arising of taṇhā (20), paṭisandhi saññā arise.

2. Do sự sanh của taṇhā (20), paṭisandhi saññā sanh.

3. Because of the arising of upādāna (20), paṭisandhi saññā arise.

3. Do sự sanh của upādāna (20), paṭisandhi saññā sanh.

4. Because of the arising of saṅkhāra (34), paṭisandhi saññā arise.

4. Do sự sanh của saṅkhāra (34), paṭisandhi saññā sanh.

5. Because of the arising of kamma (kammasatti force of 34), paṭisandhi saññā arise.

5. Do sự sanh của kamma (lực kammasatti của 34), paṭisandhi saññā sanh.

6. Because of the arising of vatthu (= hadayavatthu), paṭisandhi saññā arise.